Thứ Tư, 31 tháng 3, 2010

Cận cảnh con tàu Vinashin: Tập đoàn 2N-Nóng và nợ

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=190099&ChannelID=2

TP - Sau một thời gian phát triển nóng, đã đến lúc chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận lại hiệu quả hoạt động của Tập đoàn này để có những điều chỉnh kịp thời, đưa con tàu khổng lồ Vinashin theo đúng hướng.

Tập đoàn kinh tế Vinashin được thành lập ngày 15 tháng 5 năm 2006. Đây là tập đoàn hoạt động sản xuất kinh doanh đa sở hữu, trong đó sở hữu Nhà nước là chi phối, trên cơ sở sắp xếp tổ chức lại Tổng Cty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con.


Với hàng loạt hợp đồng đóng tàu được ký kết cùng đối tác nước ngoài, đã không ít lần Vinashin được xếp vào hàng “đại gia” trong lĩnh vực đóng tàu và đưa Việt Nam lên top 5 nước đóng tàu hàng đầu thế giới. Đằng sau những vinh quang hào nhoáng đó là gì? Tại thời điểm 31-12-2007, nợ phải trả theo báo cáo tài chính của Tập đoàn là trên 70.700 tỷ đồng ( chiếm 91,45% tổng tài sản của Tập đoàn). Có thể gọi đây là Tập đoàn 2N: Nóng và nợ

Giá trị Vinashin = nợ là chính!

Chỉ một năm rưỡi sau ngày thành lập Tập đoàn, số đơn vị thành viên của Vinashin đã tăng thêm 46. Trong đó, Tập đoàn thành lập mới 37 đơn vị và tiếp nhận từ các đơn vị khác 9 công ty.

Sự phát triển về số lượng doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh là rất nóng và hệ quả kéo theo là các khoản vốn đầu tư tăng lên chóng mặt. Qua thanh tra tại 11 đơn vị thành viên Tập đoàn có 48 công ty con đã lộ ra nhiều con số đáng quan tâm.

Theo báo cáo của Công ty mẹ và các công ty thành viên, tổng giá trị tài sản của Tập đoàn đến hết năm 2007 là 77.322 tỷ đồng. Cơ cấu nguồn vốn đảm bảo giá trị gồm: Vốn chủ sở hữu: 6.613 tỷ đồng chiếm 8,5%. Còn lại là nợ chiếm tỷ lệ 91,4%, tương đương gần 71.000 tỷ đồng.

Thanh tra tại 10 đơn vị thành viên của Tập đoàn cũng cho thấy, tổng giá trị tài sản của các đơn vị này là gần 37.100 tỷ đồng, nhưng vốn chủ sở hữu chỉ là con số rất khiêm tốn 464 tỷ đồng.


Vốn điều lệ: chiếc bánh vẽ

Không chỉ tạo nên siêu giá trị bằng những khoản vay khổng lồ chiếm đến 91% tổng giá trị doanh nghiệp, qua quá trình kiểm tra cũng phát lộ nhiều vấn đề về việc đăng ký vốn điều lệ của Tập đoàn cũng như một số công ty thành viên của Tập đoàn Vinashin.

Theo tổng hợp đăng ký kinh doanh của các đơn vị thành viên thì vốn điều lệ của toàn tập đoàn đến hết năm 2007 lên đến 23.131 tỷ đồng. Tổng số vốn điều lệ này được cơ cấu: Góp bằng thương hiệu: 1.694 tỷ đồng; góp bằng tiền, tài sản: 18.993 tỷ đồng; góp từ các cổ đông khác là 2.443 tỷ đồng.

Mặc dù vậy, cơ quan chức năng đã chỉ ra, tổng số nguồn vốn kinh doanh được phản ánh trên báo cáo tài chính của Tập đoàn tại thời điểm 31-12-2007 chỉ là 7.022 tỷ đồng. Qua đây có thể thấy rằng, vốn điều lệ thực có của Tập đoàn trên thực tế chỉ bằng 31%. Còn thiếu so với số vốn đã đăng ký là 69% (tương đương 17.112 tỷ đồng).

Tại 10 đơn vị thành viên lớn của Tập đoàn Vinashin, vốn điều lệ theo đăng ký kinh doanh là 9.455 tỷ đồng, nhưng vốn chủ sở hữu thực có đến hết ngày 31-12-2007 chỉ là 464 tỷ đồng, chỉ chiếm 4,9% so với số vốn đã đăng ký.

Trong 10 đơn vị thành viên này có 48 Cty con với vốn điều lệ mà các Cty thành viên đầu tư vào các Cty con lên đến con số 5.872 tỷ đồng. Nhưng đến hết năm 2007, vốn thực có tại các Cty con chỉ là 502 tỷ đồng. Trong đó, các Cty thành viên đóng tiền và tài sản bằng 8,56% so với số vốn đã đăng ký.

Kiểm tra cho thấy các đơn vị thành viên đã sử dụng hết vốn chủ sở hữu của mình, đồng thời còn huy động thêm vốn vay để góp vốn vào các Cty con trực thuộc.

Vay dài hạn: Gần 3 tỷ đô la

Như đã đề cập, Tập đoàn Vinashin chỉ trong một thời gian ngắn đã huy động các khoản vốn vay lên đến 70.700 tỷ đồng. Đặc biệt trong số đó có đến trên 43.700 tỷ đồng được vay dài hạn. Vậy tiền từ đâu đổ về Vinashin nhiều đến vậy, trong khi việc tiếp cận các nguồn vốn đối với hầu hết doanh nghiệp Việt Nam không phải là chuyện dễ?

Trước hết phải kể đến khoản vay 750 triệu đô la tương đương 12.085 tỷ đồng đã làm cho thương hiệu của Vinashin nổi như cồn. Và nhờ khoản vay này, Vinashin được xem như “người hùng” trong số các tập đoàn, tổng Cty nhà nước.

Tập đoàn có 150 đơn vị trực thuộc, với 71.000 lao động, gồm: Công ty mẹ, các công ty con gồm: 35 doanh nghiệp nhà nước, 33 Cty TNHH nhà nước một thành viên, 70 công ty cổ phần, 7 trường nghiệp vụ, 5 công ty liên doanh liên kết. Tổng sản lượng của toàn tập đoàn năm 2007 là 27.500 tỷ đồng.
Theo quyết định 914 ngày 1-9-2005, Thủ tướng Chính phủ cho phép tập đoàn Vinashin vay lại vốn phát hành trái phiếu Chính phủ phát hành ra thị trường quốc tế để thực hiện mục tiêu hiện đại hoá và nâng cấp ngành đóng tàu biển và giao cho Bộ Tài chính theo dõi, quản lý.

Trái phiếu quốc tế được phát hành vào ngày 3-11-2005 lãi suất 6,875 %/năm, trả gốc một lần vào ngày 15-1-2016, trả lãi 6 tháng một lần vào ngày 15-1 và 15-7 hàng năm.

Để có khoản vay này, đơn vị được vay còn phải chịu một khoản phí gọi là phí phát hành trái phiếu quốc tế trả một lần 168 tỷ đồng. Sau khi có khoản tiền lớn trong tay, Tập đoàn đã uỷ thác cho Công ty Tài chính Công nghiệp tàu thuỷ quản lý và cho các đơn vị trong Tập đoàn vay.

Ngoài khoản vay nói trên, Vinashin còn vay nước ngoài số tiền 600 triệu đô la, tương đương 9.657 tỷ đồng. Ngày 22-6-2007, Ngân hàng Nhà nước đã chấp thuận cho Tập đoàn vay 600 triệu đô la của 15 ngân hàng và 2 quỹ đầu tư nước ngoài do ngân hàng nước ngoài (Credit Suisse CN Singapore) sắp xếp tín dụng cho vay.

Sau đó, ngày 25-6-2007, Tập đoàn nhận được số tiền vay 600 triệu đô la, lãi suất Libor 6 tháng + 1,5%/năm (năm 2007 lãi suất bình quân 6,8%/năm) trả nợ gốc 6 tháng một lần vào ngày 25-6 và 25-12 hằng năm mỗi lần trả 60 triệu đô la...

Để vay được số tiền này, Vinashin cũng phải nộp khoản phí thu xếp tín dụng cho vay trả một lần 8 triệu đô la. Số tiền vay nước ngoài 600 triệu đô la, Tập đoàn cũng ủy thác cho Công ty Tài chính Công nghiệp tàu thủy quản lý và cho các đơn vị thuộc Tập đoàn vay.

Ngoài hai khoản vay khổng lồ trên trong năm 2006 và 2007, Tập đoàn còn nhận được nguồn vốn từ 6 lần phát hành trái phiếu trong nước với số tiền 8.300 tỷ đồng, gồm: Phát hành đợt 1 (tháng 9-2006) số tiền 500 tỷ đồng; Đợt 2 (tháng 11-2006), số tiền 300 tỷ đồng. Đợt 1 và đợt 2 lãi suất phát hành là 9,6%/năm. Đợt phát hành thứ 3 (tháng 1/2007), số tiền 500 tỷ đồng, lãi suất 10,5%/năm, sau 5 năm trả gốc một lần.

Chỉ 13 ngày sau, 18-1-2007, Vinashin phát hành lần thứ 4 số tiền lên đến 1.000 tỷ đồng, lãi suất 10,5%/năm, sau 10 năm trả gốc một lần. Đáng lưu ý là đợt phát hành thứ 5 số tiền lên đến 3.000 tỷ đồng, đợt phát hành thứ 6 cũng có số tiền lên đến 3.000 tỷ đồng. Số tiền này đều được Vinashin đầu tư vào các dự án đóng tàu, nâng cấp hạ tầng công nghiệp đóng tàu tại các đơn vị thành viên...

Ngoài các khoản vay quốc tế, 6 đợt phát hành trái phiếu trong nước, Vinashin còn có các khoản vay khác lên đến 13.672 tỷ đồng. Trong đó Công ty mẹ vay 805 tỷ đồng, các Cty con trực tiếp vay 12.866 tỷ đồng.

Như vậy, chỉ các khoản vay dài hạn đã biến Vinashin thành con nợ khổng lồ với số tiền lên đến trên 43.700 tỷ đồng, tương đương với gần 3 tỷ đô la (theo tỷ giá năm 2007). Ngoài ra, Tập đoàn này còn lãnh khoản nợ ngắn hạn 26.993 tỷ đồng.

Vay để cho vay cao hơn lãi suất huy động

Điều đáng lưu ý là, ngay sau khi đi vay được vốn, Tập đoàn Vinashin lại đóng vai là bên cho các đơn vị con vay lại với lãi suất cao hơn lãi suất huy động.


Cụ thể: Lãi suất cho vay từ nguồn trái phiếu quốc tế cao hơn 2,96%/năm; các khoản cho vay khác cao hơn từ 2 đến 3%/năm. Như vậy thay vì tạo sự thuận lợi vì được nương nhờ ở Tập đoàn (Công ty mẹ), việc được vay với lãi suất cao đã ảnh hưởng lớn đến giá thành sản xuất của các công ty con, làm cho giá thành sản xuất cao hơn so với các đơn vị không vay vốn của Tập đoàn mà tự huy động vốn tại cùng thời điểm.

Chỉ trong thời gian ngắn sau khi lên Tập đoàn, Vinashin đã gánh trên mình khoản nợ 70 ngàn tỷ đồng. Trong lúc nợ nần chồng chất, đáng ra Tập đoàn này phải biết chắt chiu từng đồng vốn nhưng trái lại Tập đoàn này đã vung tay quá trán.

Phùng Sưởng

Ràng buộc lệch chuẩn

http://vneconomy.vn/20100331110046103P0C5/rang-buoc-lech-chuan.htm
Cả hai bên đi thuê và làm thuê đều hy vọng Bộ luật Lao động sửa đổi sẽ có được những thay đổi dứt khoát, mạnh mẽ.


Tuy nhiên, dự thảo Bộ luật Lao động chuẩn bị trình Quốc hội thông qua vẫn giữ lại nhiều quy định vướng mắc, bất cập, thậm chí còn thụt lùi so với Bộ luật Lao động hiện hành.

Những ràng buộc vô lý

Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận tự nguyện của hai bên, thể hiện kết quả thuận mua, vừa bán hàng hóa sức lao động. Tuy nhiên, dự thảo lại đưa ra quy định mới là, người sử dụng lao động không được yêu cầu thử việc đối với người lao động làm theo hợp đồng mùa vụ (điều 34).

Như vậy, khác nào bắt người thuê lao động làm việc vài tháng cứ phải nhắm mắt nhận bừa bất kể ai?

Dự thảo quy định, trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất ba ngày làm việc (điều 38). Quy định mốc ba ngày này là vô nghĩa, vì chẳng ràng buộc được điều gì.

Trong trường hợp này, bên đề nghị có quyền đưa ra lúc nào cũng được, còn nghĩa vụ về thời gian phải là của bên tiếp nhận. Do vậy, cần phải quy định ngược lại là, bên nhận được yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng phải trả lời bên kia trong thời hạn ba ngày.

Những vướng mắc chưa gỡ

Luật quy định các trường hợp buộc phải ký hợp đồng bằng văn bản (điều 28). Tuy nhiên, còn phổ biến nhiều trường hợp người lao động không được ký. Vậy quan hệ lao động trên thực tế có được thừa nhận hay không? Nếu vẫn không quy định rõ việc công nhận đây là hợp đồng lao động, thì mọi thiệt thòi lại vẫn rơi vào người lao động.

Chẳng hạn, muốn kiện ra tòa đòi quyền lợi, thì tòa án cũng không thụ lý chỉ vì không xuất trình được bản hợp đồng bằng giấy.

Thỏa ước lao động là văn bản chủ yếu nhằm ghi nhận quyền lợi của người lao động. Khi thỏa ước lao động tập thể hết hạn thì phải được ký lại. Tuy nhiên trên thực tế việc quá hạn thường xuyên xảy ra. Nếu dự thảo vẫn chọn lựa cách xử lý máy móc như cũ là xóa bỏ hiệu lực của thỏa ước, thì chỉ người lao động mất quyền lợi. Còn doanh nghiệp thường không thiệt hại, nên sẽ chẳng mặn mà gì với việc ký lại.

Cũng giống như bộ luật hiện hành, dự thảo xác định đại diện thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể của bên doanh nghiệp là giám đốc hoặc người được giám đốc ủy quyền (điều 76). Sự áp đặt này trái với nguyên lý chung về thẩm quyền của người đại diện.

Người có đủ tư cách cần phải được quy định là người đại diện cho giới chủ doanh nghiệp hay ít nhất cũng phải là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chứ không thể ấn định là giám đốc. (Từ trước đến nay, nếu cứ để giám đốc ký hợp đồng lao động theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thì trái với cả Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp).

Dự thảo quy định trường hợp trả lương chậm thì phải trả thêm “một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố” (điều 108). Quy định này tuy đã sửa sai được bất cập cơ bản của Bộ luật hiện hành, nhưng lại gây thiệt thòi cho người lao động, vì mức lãi suất cơ bản luôn rất thấp. Với mức lãi suất này cũng sẽ không có tác dụng thúc ép doanh nghiệp nhanh chóng trả lương cho người lao động. Tốt hơn hết là cần ấn định một mức lãi suất chậm trả cụ thể khoảng 2%/tháng hoặc giao cho Chính phủ xác định trong từng thời kỳ.

Những quy định lệch chuẩn

Dự thảo định nghĩa “doanh nghiệp” bao gồm cả các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, trang trại, tổ hợp tác, hộ cá thể có sử dụng lao động theo hợp đồng (điều 5). Khái niệm này là quá rộng, mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, các luật thuế…

Rồi khái niệm “hộ cá thể” cũng không có trong các luật khác (chỉ có hộ gia đình và hộ kinh doanh, trước đây gọi là hộ kinh doanh cá thể).

Phụ lục hợp đồng theo Bộ luật Dân sự là một phần kèm theo để giải thích, bổ sung cho hợp đồng, nhưng dự thảo lại dùng cả cho việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng (điều 30).

Dự thảo quy định, người sử dụng lao động không được đòi hỏi người lao động phải có tài sản đặt cọc hay thế chấp để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng (điều 32 và 33). Cứ theo như vậy, thì không được bắt đặt cọc, thế chấp nhưng lại tha hồ yêu cầu người lao động cầm cố, ký quỹ…

Chế độ trợ cấp thôi việc đã bị bãi bỏ từ đầu năm 2010 để thay thế bằng chế độ trợ cấp thất nghiệp. Thế nhưng điều 53 của dự thảo vẫn cứ quy định doanh nghiệp phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động y nguyên như trước đây.

Điều 55 và 57 quy định một trong những trường hợp dẫn đến hợp đồng lao động bị vô hiệu toàn bộ và bị hủy bỏ, không được công nhận, đó là “người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền”.

Hậu quả nhìn thấy là thua thiệt đều dồn về phía người lao động. Trường hợp này cần xử lý theo hướng công nhận hợp đồng tương tự như trong lĩnh vực kinh tế, dân sự: ký không đúng thẩm quyền nhưng vẫn được công nhận là hợp pháp, vì doanh nghiệp đã mặc nhiên thừa nhận quan hệ lao động.

Dự thảo quy định có thể trả lương bằng “ngân phiếu” do Nhà nước phát hành (điều 106) là không hợp lý. Ngân phiếu thanh toán có giá trị lưu thông như tiền mặt, nhưng nó đã không còn được lưu hành cả chục năm nay rồi mà vẫn còn “lưu luyến” coi là một hình thức trả lương.

Cuối cùng, một bộ luật cần phải có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, hoàn chỉnh, đồng bộ, lâu dài và ít bị lệ thuộc vào các đạo luật khác cũng như văn bản hướng dẫn. Nhìn lại thì thấy một loạt nội dung cơ bản trong Bộ luật Lao động đã được tách ra thành nhiều đạo luật như: Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Luật Dạy nghề năm 2006, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008.

Một nội dung khác có quan hệ mật thiết với Bộ luật Lao động là quy định về công đoàn, thì cũng đã có Luật Công đoàn riêng từ năm 1990, nay cũng đang được soạn thảo lại. Sắp tới còn dự kiến ban hành Luật Tiền lương tối thiểu và còn có thể một số luật khác nữa. Phần nội dung còn lại của bộ luật phải “sống” dựa vào hàng mấy chục nghị định, thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Vì vậy, tuy dự thảo Bộ luật Lao động có số lượng tới 276 điều, nhiều hơn đáng kể so với Bộ luật Lao động hiện hành, nhưng xét ra nó vẫn chỉ đáng gọi là Luật Lao động mà không nên tiếp tục gọi tên là bộ luật.

Thứ Ba, 30 tháng 3, 2010

Searching questions

Google and China

Google defies China's censors and risks being blocked. Its woes send a chilling message

Mar 22nd 2010 | From The Economist online

AFTER a couple of months of talks with the Chinese authorities, Google announced on Monday March 22nd that it had stopped censoring search results on its China portal, Google.cn, and was automatically redirecting its users to Google.com.hk, an uncensored portal in Hong Kong. The company said it would try to maintain an advertising-sales operation in China, and would continue research and development work there. However, it acknowledged that the Chinese authorities might block access to its site, in effect putting it out of business. Google's decision follows several attempts to hack its e-mail system, ever stronger censorship of its searches, legal complaints tied to its digitisation of books, and—always a worrying sign in China—growing vitriol in the state-controlled press.

If Google, which first raised the prospect of withdrawal in January, seems to have hesitated on the way towards the exit, there are 400m reasons why. That is the number of people in China, the government reckons, who use the internet. Increasingly, they are choosing it over other media, notably television, as a source of entertainment, information and opinion, say Max Magni and Yuval Atsmon of McKinsey, a consultancy. Over the past decade revenues from digital advertising have grown exponentially, admittedly from a tiny base, and the trend, predicts Mr Atsmon, will continue for some time.

Foreign internet firms operating in China have been quick to see its potential but largely unable to grasp it

Foreign companies operating in China have been quick to see this potential but largely unable to grasp it. Facebook, Twitter and YouTube are all explicitly blocked. EBay faltered because of its own managerial errors, but also because of delayed approval for PayPal, its online payment system, which this week announced a partnership with a Chinese rival. Yahoo! caused a stir by allowing the Chinese authorities to probe its users’ e-mails in a hunt for political dissidents—something it has since pledged not to do.

There are now domestic Chinese equivalents of all these sites—Baidu for Google, Taobao for eBay, Renren for Facebook, QQ for instant messaging, games and social networking—and they are doing well (see chart). The vast traffic they attract brings huge potential revenues and lots of useful data that could help them shape the internet in future, rather than merely following Western models, says Duncan Clark, chairman of BDA China, a consultancy.

To the extent that Western firms have seized on the growth of the internet in China, it has often been as a marketing tool. McKinsey cites two examples: Nestlé has promoted coffee in a tea-drinking country with clever online ads about the joy of a coffee break, and Nokia has run music promotions and competitions, accessed via its handsets, in conjunction with video sites.

Outright revenues from the internet may become even harder to capture in years to come as China takes further steps to control access. Content providers like Google have always needed to obtain local licences, and have thus been required to have a Chinese subsidiary or partner. As awkward as this has been, new rules expand these impediments, requiring the licensing of domain names and, potentially, foreign sites as well.

Google’s possible departure from the Chinese market sends a chilling message to companies that remain. Advertisers and workers can both see that they will be better off with entities the Chinese government favours, which means domestic firms. A withdrawal would also cast a new light on Google itself. It is often perceived to be successful because of advanced technology, but, as China shows, it thrives only to the extent that local laws permit it to link to content and distribute it without interference. Alter the legal environment and the commercial results are quite different.

Chữ ký số đang dần phổ dụng


http://www.thesaigontimes.vn/Home/kinhteso/toancanh/31775/
Oanh Nguyễn
Thứ Ba, 30/3/2010, 08:57 (GMT+7)

(TBVTSG) - Hiện nay, các giao dịch điện tử ngày càng trở nên phổ biến. Để bảo đảm an toàn cho các giao dịch này, cần phải sử dụng đến giải pháp chữ ký số. Chữ ký số trong môi trường điện tử cũng có giá trị như một chữ ký bình thường trong các giấy tờ, văn bản.

Chữ ký số là một dạng chữ ký điện tử dựa trên công nghệ mã khóa công khai. Mỗi người dùng chữ ký số phải có một cặp khóa (keypair), gồm khóa công khai (public key) và khóa bí mật (private key). Khóa bí mật dùng để tạo chữ ký số. Khóa công khai dùng để thẩm định chữ ký số hay xác thực người tạo ra chữ ký số đó.

Hiện trạng

Hiện Bộ Thông tin - Truyền thông đã cấp giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cho Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Bkis và Công ty cổ phần công nghệ thẻ NacenComm SCT. Ngoài ra, một số đơn vị khác như Viettel, FPT… cũng đang chuẩn bị xin phép cung cấp dịch vụ này.

Thông thường, sau khi được cấp giấy phép, các đơn vị sẽ cung cấp các loại dịch vụ chứng thực chữ ký số cho các đối tượng như: cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và các trang web.

Ông Hoàng Quốc Khánh, Giám đốc NacenComm SCT, cho biết khoảng tháng Tư, tháng Năm tới NacenComm SCT sẽ hoàn thiện hệ thống để sẵn sàng cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số.

“Thị trường cho dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng tại Việt Nam chưa hình thành do chưa có nhiều đơn vị dùng chữ ký số. Tất nhiên ngay sau khi được Bộ Thông tin - Truyền thông cấp giấy phép thì các đơn vị sẽ xây dựng khung giá dịch vụ, nhưng doanh thu sẽ chưa có nhiều trong năm nay”, ông Khánh nói.

Công nghệ về chữ ký số ra đời cách đây khá lâu, tuy nhiên việc sử dụng chữ ký số ở Việt Nam thời gian qua chỉ bó hẹp trong phạm vi nội bộ một tổ chức, doanh nghiệp hoặc thí điểm ở quy mô nhỏ do các chữ ký số này chưa có tính pháp lý đầy đủ.

Có một số đơn vị, cơ quan nhà nước đã sử dụng chữ ký số với các hệ thống chứng thực chuyên dùng trong các hoạt động nghiệp vụ nội bộ và trong các cơ quan nhà nước như Bộ Khoa học-Công nghệ, Bộ Thông tin-Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thông tin - Truyền thông TP.HCM…

Sử dụng chữ ký số như thế nào?

Chữ ký số chỉ dùng được trong môi trường số, giao dịch điện tử với máy tính và mạng Internet. Trong môi trường số không thể dùng chữ ký tay nhưng lại có rất nhiều ứng dụng phải cần đến một cơ chế ký và xác thực người sử dụng như chữ ký tay.

Các công nghệ mã hóa và chữ ký số ra đời để giúp giải quyết vấn đề này. Như vậy, chữ ký số có thể dùng trong tất cả các trường hợp giao dịch cần đến chữ ký tay nhưng lại phải thực hiện trong môi trường số.

Theo ông Ngô Tuấn Anh, Giám đốc Bkis Telecom, dịch vụ chữ ký số công cộng là dịch vụ công cộng cho người dân và các doanh nghiệp. Bản thân người sử dụng khi đăng ký dùng dịch vụ của nhà cung cấp có thể tạo ra các chữ ký số của riêng mình đính kèm vào các tài liệu điện tử lưu chuyển trên môi trường số.

Để người nhận được các tài liệu điện tử có chữ ký số này có thể xác thực được ai là người tạo ra các chữ ký cần phải có một nhà cung cấp dịch vụ chứng thực đứng ra chứng nhận chữ ký đó là do một người cụ thể nào đó tạo ra. Việc chứng nhận này được thực hiện hoàn toàn tự động bằng các thuật toán đặc biệt giúp xác thực được tác giả chữ ký mà không thể chối bỏ hoặc làm giả chữ ký số được.

Chữ ký số có thể sử dụng trong các giao dịch thư điện tử, các e-mail, để mua bán hàng trực tuyến, đầu tư chứng khoán trực tuyến, chuyển tiền ngân hàng, thanh toán trực tuyến mà không sợ bị đánh cắp tiền như với các tài khoản Visa, Master; có thể sử dụng với các ứng dụng chính phủ điện tử bởi các cơ quan nhà nước trong tương lai sẽ làm việc với nhân dân hoàn toàn trực tuyến và một cửa. Khi cần làm thủ tục hành chính hay một sự xác nhận của cơ quan nhà nước người dân chỉ cần ngồi ở nhà khai vào mẫu đơn và ký số để gửi là xong.

Ngoài ra, chữ ký số cũng có thể dùng để kê khai, nộp thuế trực tuyến, khai báo hải quan và thông quan trực tuyến mà không phải in các tờ khai, đóng dấu đỏ của công ty và chạy đến cơ quan thuế xếp hàng và ngồi đợi vài tiếng đồng hồ, có khi đến cả ngày để nộp tờ khai này.

Chữ ký số giúp cho các đối tác có thể ký hợp đồng làm ăn hoàn toàn trực tuyến không cần ngồi trực tiếp với nhau, chỉ cần ký vào file hợp đồng và gửi qua e-mail. Ông Tuấn Anh nói: “Những ưu điểm của chữ ký số trong các ứng dụng giao dịch trực tuyến thì có rất nhiều, thời gian tới mọi người sẽ được chứng kiến sự phát triển của nó”.

Theo ông La Thế Hưng, người phụ trách dự án chữ ký số của Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC (thuộc VNPT), dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng có thể sử dụng trong các giao dịch điện tử liên quan đến người sử dụng cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp, trong các giao dịch giữa người dân, doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước.

Riêng các giao dịch nội bộ của các cơ quan nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với nhau là các giao dịch đặc thù, không dùng được hệ thống chứng thực công cộng mà phải dùng hệ thống riêng.

Về công nghệ, chữ ký số dựa trên hạ tầng mã hóa công khai (PKI), trong đó phần quan trọng nhất là thuật toán mã hóa công khai RSA. Công nghệ này bảo đảm rằng chữ ký số khi được một người nào đó tạo ra là duy nhất, không thể giả mạo được và chỉ có người sở hữu khóa bí mật mới có thể tạo ra được chữ ký số đó (đã được chứng minh về mặt toán học).

Khóa bí mật được tạo ra khi một người đăng ký sử dụng dịch vụ và được lưu trữ trong một thiết bị phần cứng đặc biệt an toàn là Token hoặc SmartCard. Thiết bị này là một máy tính thực sự với cấu trúc tinh vi, có đầy đủ CPU, RAM, bộ nhớ… bảo đảm cho khóa bí mật được lưu trữ an toàn, không thể sao chép hay nhân bản được và cũng không thể bị virus phá hỏng.

Để sử dụng chữ ký số cần phải đăng ký chứng thư số và tạo khóa bí mật lưu vào trong PKI Token với các nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số (như VNPT, NacenComm, Bkis…). Các chương trình ứng dụng phải hỗ trợ chức năng ký số, khi đó việc sử dụng khá đơn giản: nhấp chuột vào nút lệnh ký số, cắm thiết bị Token vào cổng USB, nhập PIN code bảo vệ Token, nhấp chuột vào nút lệnh ký.

Thủ tục đăng ký tương tự như đăng ký các dịch vụ viễn thông, tuy nhiên do đặc thù pháp lý của chữ ký số, tương đương với chữ ký tay, nên có thể phải cần thêm một số giấy tờ xác thực nguồn gốc thông tin của doanh nghiệp hay người sử dụng cá nhân chặt chẽ hơn (ví dụ: bản sao giấy tờ có công chứng của doanh nghiệp...).

Đưa chữ ký số vào cuộc sống

Chữ ký số được sử dụng để bảo đảm tính bảo mật, tính toàn vẹn, tính chống chối bỏ của các thông tin giao dịch trên mạng Internet. Chữ ký số tương đương với chữ ký tay nên có giá trị sử dụng trong các ứng dụng giao dịch điện tử cần tính pháp lý cao.

Hơn nữa, ngoài việc là một phương tiện điện tử được pháp luật thừa nhận về tính pháp lý, chữ ký số còn là một công nghệ mã hóa và xác thực rất mạnh. Nó có thể giúp bảo đảm an toàn, bảo mật cao cho các giao dịch trực tuyến, nhất là các giao dịch chứa các thông tin liên quan đến tài chính.

Tại một cuộc hội thảo về chữ ký số do Bộ Thông tin - Truyền thông phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ tổ chức, ông Trần Văn Sơn, Phó trưởng ban Cơ yếu Chính phủ, cho biết: “Chữ ký số là giải pháp tốt nhất trong việc bảo mật, xác thực và bảo toàn dữ liệu trong các giao dịch điện tử. Tuy nhiên, để đưa chữ ký số vào thực tế không hề đơn giản”.

Còn ông Khánh cho rằng, để có thị trường chữ ký số các đơn vị cung cấp cần nỗ lực hơn trong việc cải tiến các giải pháp, đưa mạnh ứng dụng vào cuộc sống. NacenComm cũng sẽ cố gắng đưa ra nhiều ứng dụng và hỗ trợ các tổ chức tích hợp chữ ký số vào các ứng dụng để có thể sử dụng.

Ông Khánh cũng cho rằng cần thay đổi thói quen của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân bằng các biện pháp tuyên truyền, khuyến khích. Ngoài ra, ông Khánh cũng nhận định cuộc cải cách hành chính công sẽ góp phần đưa chữ ký số vào cuộc sống.

Trước đây, có không ít chuyên gia đã nói rằng, chữ ký số chỉ có thể được sử dụng rộng rãi khi có nhà cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng được Bộ Thông tin - Truyền thông cấp giấy phép. Như vậy, với sự xuất hiện ngày càng nhiều của các đơn vị này, chữ ký số đang dần được phổ biến.

Ban kiểm soát bị vô hiệu hóa như thế nào?

http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/quantri/31719/

Ly Nguyễn
Thứ Ba, 30/3/2010, 09:03 (GMT+7)

(TBKTSG) - Trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng và công ty niêm yết, vai trò của ban kiểm soát (BKS) là hết sức quan trọng.

Ngoài chức năng chính là giám sát hoạt động của hội đồng quản trị (HĐQT), tổng giám đốc/giám đốc (TGĐ/GĐ), nhằm ngăn chặn và phát hiện những trường hợp sai phạm, thiếu sót, bất minh, bất hợp lý, xung đột lợi ích… trong việc quản lý, điều hành công ty; BKS còn đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp, giải pháp khắc phục, cải tiến để hoạt động quản lý, điều hành công ty đạt được hiệu quả cao nhất.

Trong một công ty hoạt động minh bạch, hoặc có mong muốn hoạt động minh bạch, HĐQT và TGĐ/GĐ công ty luôn nhìn nhận BKS dưới góc độ vừa là người “thổi còi”, giúp HĐQT ngừng ngay các sai phạm, để không đi quá xa; vừa là người hỗ trợ tích cực cho các hoạt động cải tiến, đặc biệt trong các lĩnh vực “nhạy cảm” như quản lý tài chính, quản lý đầu tư, quản lý quan hệ cổ đông…

Thế nhưng, ở không ít các công ty, BKS chỉ đóng vai trò như con bù nhìn, được chính HĐQT và các cổ đông lớn dựng lên cho có và hoàn toàn bị vô hiệu hóa, thậm chí còn được xem là lực lượng hậu thuẫn, đứng sau, tiếp tay cho HĐQT, TGĐ/GĐ dấn sâu vào những hoạt động sai phạm, xâm phạm lợi ích các cổ đông nhỏ lẻ.

Vị trí đặt quảng cáo

Ban kiểm soát trong các công ty cổ phần thường bị vô hiệu hóa như thế nào?

Luật Doanh nghiệp, mặc dù có biện pháp bảo vệ cổ đông nhỏ thông qua điều khoản quy định tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên BKS, nhưng các ràng buộc trong luật lại khá lỏng lẻo, còn nhiều kẽ hở.

Điều 122, Luật Doanh nghiệp, (khoản 1, mục a) quy định thành viên BKS không được là “vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên HĐQT, TGĐ/GĐ và người quản lý khác”. Tuy nhiên, mối quan hệ thân thiết với các thành viên HĐQT, TGĐ/GĐ không chỉ là các thành phần trên mà còn nhiều quan hệ khác như chú, bác, cô, dì ruột, anh, em nhà chú bác, cô, dì, anh, em vợ (chồng)… Nhiều công ty đã lợi dụng kẽ hở này để đưa người thân vào BKS nhằm có thêm tiếng nói ủng hộ hơn là để kiểm soát.

Khoản 2, điều 122 cũng quy định: “Thành viên BKS không được giữ các chức vụ quản lý công ty”. Sự ràng buộc này càng không có ý nghĩa khi HĐQT, TGĐ/GĐ đưa nhân viên cấp thấp vào làm thành viên BKS để dễ bề sai khiến. Rất dễ thấy lương, thưởng, hợp đồng lao động và các điều kiện thăng tiến của nhân viên cấp thấp đều trực tiếp do TGĐ/GĐ hoặc gián tiếp do HĐQT quyết định. Liệu có ai dám “kiểm soát” một người có quyền quyết định mức thu nhập và tương lai, sự nghiệp của mình?

Mặt khác, nếu không phải là người bà con họ hàng hay nhân viên trong công ty, HĐQT và TGĐ/GĐ vẫn có thể vô hiệu hóa BKS thông qua việc không bỏ phiếu cho những người có khả năng và dũng khí để làm công tác kiểm soát. Với số phiếu áp đảo, các thành viên HĐQT (thường là các cổ đông lớn) có quyền đề cử và bỏ phiếu cho người cùng phe cánh với mình vào BKS và loại bỏ những người không cùng phe cánh với mình ra ngoài. Nếu có ai đó không thuộc phe cánh của HĐQT, TGĐ/GĐ mà may mắn được lọt vào trong thành phần BKS, thì người này cũng sẽ bị làm khó, cản trở, không cho tiếp cận các thông tin nhạy cảm liên quan đến các sai phạm của HĐQT, TGĐ/GĐ.

Trong các trường hợp trên, sự hiện diện của BKS sẽ chỉ thêm tốn tiền của cổ đông (vì phải chi trả thu nhập cho các thành viên BKS) mà không đem lại lợi ích gì. Không ngạc nhiên khi hầu hết các báo cáo của BKS trong các cuộc họp đại hội cổ đông đều khen HĐQT, TGĐ/GĐ, chứ không mấy khi thấy chê.

Cơ chế nào để BKS thực sự là một tổ chức độc lập, làm đúng chức năng giám sát và kiểm soát mà không bị vô hiệu hóa hoặc được dựng lên như bù nhìn để hậu thuẫn sau lưng HĐQT và TGĐ/GĐ?

Cơ chế đơn giản và hiệu quả nhất là các thành viên HĐQT, TGĐ/GĐ không được quyền đề cử và không được quyền bỏ phiếu bầu thành viên BKS. Điều này là hợp lý, bởi lẽ BKS không tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, không có vai trò trong việc làm cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hay kém hiệu quả, mà chỉ đóng vai trò giám sát hoạt động quản lý điều hành doanh nghiệp của HĐQT, TGĐ/GĐ.

Một trong những nguyên tắc quan trọng khi xây dựng Luật Doanh nghiệp là hạn chế thấp nhất những xung đột lợi ích trong hoạt động quản lý, điều hành doanh nghiệp. Khi một người có quyền đề cử, ủng hộ hoặc loại bỏ một người có quyền giám sát mình thì hành vi đó được xem là có xung đột lợi ích. Tương tự như trong nguyên tắc bỏ phiếu trong HĐQT, khi sự việc có liên quan đến lợi ích của thành viên nào thì thành viên đó không được quyền bỏ phiếu.

Tuy nhiên, trong khi chờ đợi những thay đổi về luật, cổ đông nhỏ nên biết cách liên kết để tạo sức mạnh. Cần phải liên kết để đưa ít nhất một người vào trong BKS thông qua việc thành lập nhóm cổ đông thiểu số để đề cử người và sau đó tập hợp phiếu bầu để bầu dồn phiếu cho người mà mình đề cử. Thành viên BKS phải là người có năng lực, phải am hiểu điều lệ công ty, phải am hiểu Luật Doanh nghiệp và một số luật liên quan khác như Luật Chứng khoán, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế giá trị gia tăng…; và có những hiểu biết nhất định về tài chính, kế toán, về hệ thống quản lý và các nguyên tắc quản trị công ty. Quan trọng nhất, thành viên BKS phải có đủ dũng khí và bản lĩnh để đương đầu với sức ép và cả sự mua chuộc bằng nhiều cách, từ HĐQT, TGĐ/GĐ đang cố ý làm trái.

Đằng sau các thành viên BKS chân chính luôn có sự ủng hộ của Điều lệ công ty (thường theo đúng chuẩn mực luật pháp) và các quy định của luật pháp. Nếu tiếng nói cảnh báo, ngăn chặn chính đáng của mình bị coi thường hoặc bỏ qua, thành viên BKS có quyền nêu vấn đề một cách độc lập (không phụ thuộc vào ý kiến của các thành viên khác trong BKS) ra Đại hội đồng cổ đông, ra các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan pháp luật, thậm chí có quyền khởi kiện ra tòa.

Thiết tưởng, một cơ chế chặt chẽ hơn để hạn chế sự lũng đoạn cố tình của HĐQT, TGĐ/GĐ và các cổ đông lớn trong các công ty cổ phần là hết sức cần thiết trong bối cảnh hoạt động của BKS, nhìn chung, chỉ mang nặng tính hình thức mà không mấy hiệu quả.

Thứ Hai, 29 tháng 3, 2010

Chuẩn mực và luật pháp

http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/31708/
Vân Cầm
Thứ Hai, 29/3/2010, 15:49 (GMT+7)

(TBKTSG) - Có nhiều vấn đề xã hội được nhìn nhận từ dưới nhiều góc độ, tùy thuộc vào chuẩn mực khác nhau của người quan sát. Đây là điều đáng cổ vũ vì nó tạo ra sự đa dạng trong ý kiến, xây dựng được một môi trường tranh luận lành mạnh, để từ đó hình thành nên những chuẩn mực mới được đa số công nhận.

Tuy nhiên, dưới góc độ quản lý nhà nước, người công chức luôn phải dựa vào luật pháp và những quy định hiện hành làm cơ sở cho mọi ứng xử của mình để tránh sự tùy tiện của cá nhân. Nếu quy định chưa phù hợp với thực tế đã thay đổi, phải thay đổi quy định trước khi thay đổi ứng xử.

Lấy ví dụ chuyện Sở Giao thông Vận tải TPHCM đề xuất dừng cấp giấy phép kinh doanh các loại hình dịch vụ, thương mại tập trung đông người trên 153 đoạn, tuyến đường ở TPHCM. Đứng ở góc độ người dân đang bức xúc vì tình trạng kẹt xe, nhất là ở những đoạn đường có các trung tâm ngoại ngữ, mỗi lần tan học, xe phụ huynh đón con đứng tràn ra lòng đường, đây là đề xuất hợp lý. Ngược lại, với những ai dự định kinh doanh ở những nơi này, họ cũng sẽ bức xúc vì mất cơ hội làm ăn. Chính quyền quận ở những địa điểm trong danh mục sẽ bị “giằng xé” giữa hai “lợi ích”: cấm thì sẽ giải quyết vấn nạn giao thông trên địa bàn nhưng sẽ dẫn đến thất thu nhiều nguồn thuế.

Vị trí đặt quảng cáo

Nhưng áp dụng nguyên tắc làm gì cũng phải dựa vào luật pháp, người ta sẽ thấy đề xuất này có nhiều điểm bất ổn. Không thể dựa vào các quy định hiện hành để cấm kinh doanh chỉ vì lý do giải quyết ùn tắc giao thông.

Nếu muốn, sở phải phối hợp với nhiều nơi khác để biến ý muốn thành điều kiện kinh doanh do nơi có thẩm quyền ban hành, chẳng hạn, trung tâm ngoại ngữ phải có sân để xe chờ của phụ huynh (!) hay siêu thị phải có đủ chỗ giữ xe cho một lượng khách nhất định. Lúc đó, điều kiện kinh doanh sẽ trở thành lệnh cấm gián tiếp, đúng thẩm quyền luật định.

Hay một chuyện khác, khi báo chí nêu việc phôi bằng tốt nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo in ấn thiếu dòng chữ “Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trả lời, mà mới nghe qua rất hợp lý, rằng bằng tốt nghiệp không phải là văn bản quy phạm pháp luật hay công văn hành chính nên không trình bày theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật hoặc công văn hành chính.

Phải nhìn nhận câu chuyện này như thế nào? Ở góc độ hội nhập, nhiều người sẽ đồng tình, ghi tên nước là đủ và đúng chuẩn mực quốc tế. Dưới góc độ quen thuộc, nhiều người sẽ thấy ghi thiếu như vậy có gì đó không ổn, làm cho tấm bằng mất giá trị…

Nhưng cơ quan hành chính thì luôn phải dựa vào quy định hiện hành, như đã nói ở trên. Hình thức trình bày văn bằng đã được quy định chi tiết tại Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 20-6-2007, ban hành quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân. Điều 9 của quy chế này ghi rõ: Nội dung của các văn bằng, chứng chỉ gồm: 1/ Tiêu đề: CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM/Độc lập-Tự do-Hạnh phúc…

Đã quy định rõ ràng như thế (kể cả cách viết hoa, viết thường) thì người soạn mẫu bằng phải tuân thủ, không thể biện minh bằng bất kỳ lý do gì. Còn nếu muốn sửa cách trình bày, trước tiên phải sửa lại quy chế chứ không thể tùy tiện được. Đáng lưu ý là nhiều cơ quan nhà nước cũng làm theo cách này mỗi khi muốn điều chỉnh quy định theo ý muốn nhưng lại dùng văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn để “điều chỉnh” một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn, làm cho hệ thống quy định của chúng ta rối tung lên và cồng kềnh không cần thiết.

Nhà nước pháp quyền bắt đầu từ những chuyện cụ thể như thế chứ không phải bằng các khái niệm cao siêu hay phức tạp.

Chủ Nhật, 28 tháng 3, 2010

Công ty tài chính cho kẻ “ít tóc” vay

11:49 (GMT+7) - Thứ Hai, 29/3/2010

http://vneconomy.vn/20100329114614497P0C6/cong-ty-tai-chinh-cho-ke-it-toc-vay.htm

Lãi suất cho vay cao gấp đôi mức của ngân hàng, công ty tài chính chọn một cách cho vay khác ngân hàng

Lãi suất cho vay cao gấp đôi mức của ngân hàng, công ty tài chính chọn một cách cho vay khác ngân hàng… Và đây là “cửa” của những người không thể vay ngân hàng.

Anh Hoàng, mới tốt nghiệp đại học, vay khoản tiền 30 triệu đồng của công ty tài chính để mua một chiếc xe máy. Anh trả trước khoản tiền 30% giá trị xe, nộp bản sao hộ khẩu và chứng minh nhân dân, trả góp hàng tháng với mức lãi suất 2,7%/tháng. Trước đó, anh đã bị một ngân hàng từ chối khi không thể chứng minh thu nhập của mình.

Lãi suất: 35,88%/năm

Đi vào hoạt động chính thức được tám tháng nay, công ty tài chính PPF Việt Nam đã cho vay được 60.000 khoản vay, trung bình một ngày PPF cho vay 250 khoản với mức lãi suất từ 1,69 - 2,99%/tháng. PPF hiện là một trong ba công ty tài chính hoạt động cho vay tiêu dùng trả góp, cho vay tiền mặt và là công ty có mức lãi suất cho vay cao nhất thị trường với 35,88%/năm.

Báo cáo xu hướng việc làm Việt Nam năm 2009 công bố tháng 1.2010 cho biết, hai nhóm lao động tự làm và lao động gia đình không được trả công, trả lương chiếm khoảng 2/3 đến 3/4 tổng số người có việc làm năm 2007.

Thành ra, theo ông Ajay, tổng giám đốc PPF Việt Nam, các bước bắt buộc chứng minh thu nhập, đòi hỏi bảng lương, và trình ra sao kê ngân hàng trong hồ sơ vay của các ngân hàng đối với nhiều người vay tiêu dùng tín chấp là khó thể thực hiện được. “Trường hợp ngân hàng từ chối, không có chúng tôi, người có nhu cầu vay sẽ vay ai?”, ông nói. Theo ông, nếu PPF cho vay tiêu dùng với các thủ tục như ngân hàng, có lẽ chỉ cho vay được một nhóm nhỏ.

Khó khăn về giấy tờ là lý do chính khiến nhiều người, như anh Hoàng, chọn vay những khoản tiền nhỏ và ngắn hạn ở công ty tài chính, dù phải chịu lãi suất gấp đôi so vay của ngân hàng. Lãi suất cho vay ở các công ty tài chính dao động từ 20 - 35,88%/năm, thời hạn vay từ 6 - 24 tháng. Trị giá món hàng cho vay trả góp từ 2,8 - 45 triệu đồng. Muốn trả hết một lần khoản nợ, ví dụ ở PPF, người vay phải trả được ít nhất bốn kỳ, và bị phạt 4% trên số dư nợ còn lại.

Tuỳ vào việc chứng minh được thu nhập, thời gian vay, khoản tiền trả trước, lãi suất sẽ cao hay thấp như một cách đo lường rủi ro tín dụng ở các công ty tài chính.

“Trông mặt bắt hình dong”

Những người đi vay ở PPF là người đang theo học cao đẳng đại học, hoặc tốt nghiệp, hoặc là những người buôn bán, làm nghề tự do…, độ tuổi từ 20 đến 55, ông Ajay cho biết.

“Họ nhìn khuôn mặt tôi, hỏi chuyện gia cảnh, và mười phút sau tôi đã có thể lấy được xe”, anh Hoàng kể. Một người muốn vay được ở PPF Việt Nam phải đến nơi để PPF Việt Nam… nhìn mặt. Theo ông Ajay, ví dụ, một người muốn mua trả góp một chiếc xe, người đó phải trực tiếp đến đại lý chọn xe, giao tiếp trực diện với nhân viên tín dụng, cung cấp địa chỉ nhà, điện thoại, công ty (nếu có).

“Trông mặt bắt hình dong” là bước đầu tiên, người mua còn phải trả trước một khoản tiền”, nhân viên tín dụng tên X. của một công ty tài chính ngồi ở một đại lý bán xe trên đường Lê Văn Sỹ, quận 3, giải thích.

Thông thường, người vay phải trả trước từ 20 – 70% giá trị món hàng. “Việc trực tiếp đi chọn lựa, hoặc dẫn người thân cùng đi, và chuẩn bị một khoản tiền trả trước, chứng tỏ họ có nghiêm túc trong việc mua hàng”, ông Ajay nói.

Để đảm bảo người vay theo đuổi khoản trả nợ đến cùng, công ty tài chính thường giữ lại bản gốc đăng ký xe, và đưa bản sao cho người vay. Hơn nữa, việc gặp nhau trực tiếp ở một đại lý bán hàng, chứng kiến khách hàng lấy xe là cách biết món tiền được người vay sử dụng đúng mục đích.

Trung bình một khoản vay tại PPF khoảng 12 - 13 triệu đồng/người với thời hạn vay trung bình 15 tháng. Theo ông Ajay, PPF Việt Nam không dựa vào lãi suất để biết người vay có trả được số tiền, mà chia nhỏ số tiền phải trả từng kỳ phù hợp với thu nhập của từng người, sau khi trừ chi tiêu gia đình, họ còn để trả nợ.

Việc khó nắm bắt được thu nhập của người vay khiến PPF Việt Nam và công ty tài chính Việt SG mới chỉ thăm dò mở rộng cho vay tiền mặt ở nhóm khách hàng thân thiết.

Còn công ty tài chính Prudential cho vay tối đa 190 triệu đồng (theo lời mời chào của các nhân viên tín dụng Prudential), nhưng người vay vừa phải kê khai các loại giấy tờ không khác ngân hàng, vừa phải chịu lãi suất cao hơn.

Theo nhận xét của một nhân viên tín dụng: “Lãi suất cao nhưng người vay vẫn chấp nhận, vì trước khi đến với công ty tài chính, người vay đã bị ngân hàng từ chối”. Ngoài ra, theo lời nhân viên này, lãi suất cao nhưng tuỳ đối tượng. Nếu đối tượng thuộc khu vực mà công ty tài chính đã khảo sát trước về mức độ rủi ro, thì lãi suất sẽ thấp hơn.

Hồng Sương (SGTT)