TS. Võ Kim Cương
Thứ Tư, 15/9/2010, 17:10 (GMT+7)
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/40221/
(TBKTSG) - Dự án đề cập trong bài này là dự án đầu tư nói chung (theo Luật Đầu tư) và dự án đầu tư xây dựng công trình theo Luật Xây dựng. Khi đầu tư, chủ đầu tư phải lập dự án để xem xét, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư.
Cơ sở để quyết định đầu tư vào đâu
Đối với một doanh nghiệp, khi có sẵn một nguồn tài chính, việc cân nhắc đầu tiên là “cần đầu tư vào đâu?”. Để trả lời câu hỏi này, chủ doanh nghiệp buộc phải so sánh nhiều hướng khác nhau như đầu tư vào kinh doanh xây dựng bất động sản, hay vào kinh doanh hàng hóa, hay đơn giản là mua chứng khoán.
Đối với một thành phố hay một quốc gia, chính quyền vốn sinh ra là để huy động và sử dụng mọi nguồn lực phục vụ việc xây dựng và bảo vệ đất nước cũng phải cân nhắc việc “đầu tư vào đâu” như vậy. Dựa trên cơ sở nào để quyết định việc đầu tư vào đâu?
Các chủ doanh nghiệp cũng như Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ hay chính quyền các cấp) đều cần có đủ thông tin để chọn hướng đầu tư hay quyết định chủ trương đầu tư. Trong khi đó, nội dung của dự án đầu tư theo Luật Xây dựng chỉ là những thông tin về dự án.
Cụ thể, tại điều 37 Luật Xây dựng, nội dung chủ yếu của phần thuyết minh là những thông tin sau: “Mục tiêu, địa điểm, quy mô, công suất, công nghệ, các giải pháp kinh tế kỹ thuật, nguồn vốn và tổng mức đầu tư, chủ đầu tư và hình thức quản lý dự án, hình thức đầu tư, thời gian, hiệu quả, phòng chống cháy nổ, đánh giá tác động môi trường”. Có thể thấy các thông tin trong thuyết minh dự án là những thông tin sau khi đã có quyết định về chủ trương đầu tư.
Đối với các công trình xây dựng có quy mô lớn, theo Luật Xây dựng: “Trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phải lập báo cáo đầu tư để trình cấp có thẩm quyền cho phép đầu tư”. Nội dung báo cáo đầu tư bao gồm sự cần thiết đầu tư, dự kiến quy mô đầu tư, phân tích lựa chọn sơ bộ về công nghệ, xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và trả nợ, tính toán sơ bộ hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội...
Có thể thấy các nội dung này chủ yếu vẫn là những thông tin về bản thân dự án, ngoại trừ thông tin về “sự cần thiết phải đầu tư”. Những thông tin sơ bộ về dự án và nội dung thuyết minh về sự cần thiết phải đầu tư chỉ để trả lời câu hỏi: “Có nên đầu tư dự án này hay không?”, chứ chưa trả lời được câu hỏi: “Cần đầu tư vào đâu?”.
Để trả lời câu hỏi: “Cần đầu tư vào đâu?” phải so sánh hiệu quả của các dự án với nhau, đó là sự so sánh ngoài dự án.Hãy lấy dự án đường sắt cao tốc được Quốc hội thảo luận trong kỳ họp vừa qua làm ví dụ. Ta có thể thấy có 4 cấp so sánh lựa chọn phương án chính:
1. So sánh các phương án của đường sắt cao tốc như phương án tuyến, phương án phân kỳ đầu tư, phương án huy động vốn...
2. So sánh các phương án đầu tư đường sắt như xây đường cao tốc, cải tạo từng bước hệ thống cũ, đổi đường 1 mét thành đường 1,435 mét, đổi đường đơn thành đường đôi...
3. So sánh giữa đầu tư cho đường sắt cao tốc với đầu tư cho các hệ thống giao thông khác như đường bộ, hàng không, đường thủy.
4. So sánh giữa đầu tư cho đường sắt cao tốc với các mục tiêu khác như đầu tư cho nguồn nhân lực, đầu tư cho nông nhiệp...
Trong 4 cấp so sánh trên đây, cấp 1 là so sánh trong dự án đường sắt cao tốc. Cấp 2, 3, 4 đều là các so sánh ngoài dự án. Trong đó cấp 2 phục vụ việc quyết định chủ trương đầu tư của ngành đường sắt. Khi chứng minh sự cần thiết phải đầu tư, tư vấn dự án chắc phải thực hiện so sánh ở cấp này.
Việc so sánh chọn phương án ở cấp 3 và cấp 4 thuộc thẩm quyền của Bộ Giao thông Vận tải và Chính phủ. Được biết việc so sánh này do các cơ quan thẩm định thực hiện để trình Chính phủ và Quốc hội. Để thẩm định dự án này, các cơ quan có trách nhiệm cũng đã sử dụng các cơ quan chuyên môn và tổ chức lấy ý kiến chuyên gia. Nhưng như đã thấy, các đại biếu Quốc hội vẫn thiếu thông tin, dự án đã bị gác lại.
Để biểu quyết, các đại biểu Quốc hội phải thực hiện so sánh phương án ở cấp 3 và 4 (so sánh ngoài dự án). Nhưng đến nay chưa có luật nào quy định về việc chuẩn bị thông tin cho việc so sánh này. Các luật chỉ quy định dự án phải phù hợp với quy hoạch và kế hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt. Nội dung thẩm định dự án được quy định rõ hơn trong các nghị định của Chính phủ cũng chỉ tập trung xem xét tính xác thực của bản thuyết minh dự án, nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và sự phù hợp với quy hoạch, kế hoạch.
Việc so sánh ngoài dự án đã được thực hiện ngay từ khâu lập quy hoạch và kế hoạch chưa? Xem xét dự án đường sắt cao tốc và đồ án quy hoạch mở rộng Thủ đô Hà Nội đều chưa thấy được điều đó. So sánh ngoài dự án đòi hỏi thông tin đầy đủ và toàn diện, đây là yêu cầu khó khăn ngay cả đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực liên quan. Vừa qua, các ý kiến thảo luận ở Quốc hội cũng như trên báo đài nhiều lúc theo cảm tính hơn là trên cơ sở dữ liệu. Ngoài ra, các ý kiến còn bị chi phối bởi các nhóm lợi ích cục bộ riêng. Việc thương thảo để giải quyết hài hòa các lợi ích của nhân dân dễ biến thành việc cân đối các lợi ích cục bộ.
So sánh ngoài dự án: so sánh cấp chiến lược
Dù là dự án của doanh nghiệp hay của quốc gia, so sánh ngoài dự án đều là so sánh ở cấp chiến lược. Trong điều kiện chưa có các quy định cụ thể về nội dung và cách thức so sánh ngoài dự án, việc chọn phương án phụ thuộc rất nhiều vào tài năng của người đứng đầu. Quyết định đầu tư vào đâu cũng giống như quyết định mở chiến dịch ở đâu trong chiến tranh. Trước đây, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng đã để lại dấu ấn đậm nét khi quyết định đầu tư đường dây điện 500 KV Bắc - Nam.
Ở Hàn Quốc, Lý Thừa Vãn là một nhà độc tài, nhưng ông ta đã để lại cho Hàn Quốc thành quả của chủ trương đầu tư vượt trội cho giáo dục ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, khi Hàn Quốc vừa thoát khỏi chiến tranh và còn rất nghèo khổ. Cho đến nay, khi so sánh hai nền kinh tế tương đương nhau - Tây Ban Nha và Hàn Quốc - người ta đã cho rằng Hàn Quốc sẽ nhanh chóng vượt xa Tây Ban Nha, vì Hàn Quốc đầu tư cho giáo dục cao hơn đáng kể. Các nhà chiến lược tài năng biết lựa chọn thông tin và so sánh ngoài dự án, biết chọn lọc và nghe ý kiến chuyên môn, nhiều khi ý kiến thiểu số đúng đắn hơn đa số.
Đối với một thành phố hay một quốc gia, rất cần những cơ quan nghiên cứu chiến lược mạnh. Nhiệm vụ số 1 và có tính chất bao trùm của các cơ quan này là tham mưu cho cấp thẩm quyền trả lời câu hỏi: “Đầu tư vào đâu?”. Trước hết, các cơ quan nghiên cứu này phải đồng thời là các trung tâm thông tin và có năng lực thu thập và xử lý thông tin mạnh.
“Nhà ta nghèo, khó kiếm được thức ăn nên chúng ta phải giỏi nấu nướng”, các bà mẹ thường dạy chúng ta như vậy. Suy rộng ra, nước ta còn nghèo nên phải giỏi khai thác và sử dụng nguồn lực phát triển đất nước, ngõ hầu sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Bác Hồ và các bậc tiền bối đã chiến đấu giành lại nền độc lập tự do ngày nay.
Thứ Ba, 21 tháng 9, 2010
Thứ Năm, 16 tháng 9, 2010
Công bằng của chủ nghĩa xã hội
http://sgtt.vn/Goc-nhin/129469/Cong-bang-cua-chu-nghia-xa-hoi.html
Sài Gòn Tiếp Thị trao đổi thêm với TS Nghĩa về chủ đề này.
Ông đã đề cập đến vấn đề cốt lõi mà chủ nghĩa xã hội hướng tới. Có cách giải quyết nào tốt hơn không?
Có học giả quốc tế gần đây bình luận rằng người Trung Quốc coi chủ nghĩa xã hội như là một brand name (thương hiệu). Dưới chữ đó người ta có thể hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu bám vào học thuyết cũ mà coi chủ nghĩa xã hội với những nền tảng số một là doanh nghiệp nhà nước, số hai là sở hữu toàn dân về các loại tư liệu sản xuất, số ba là nền kinh tế chỉ huy thì thất bại. Vì thế Trung Quốc và các nước cộng sản phải chuyển đổi cách hiểu một cách uyển chuyển. Người Việt Nam cũng như thế thôi, chúng ta đã cải cách bằng uyển ngữ, những ngôn ngữ có thể phát huy được các sức mạnh xã hội. Vậy phải tìm cách định nghĩa lại những giá trị xã hội chủ nghĩa cho nó tử tế hơn, nhân văn hơn, linh hoạt hơn.
Chúng tôi đi theo hướng thứhai, coi chủ nghĩa xã hội là phúc lợi được chia một cách công bằng cho các nhóm, đặc biệt là nhóm yếu thế. Chủ nghĩa xã hội là quan niệm về phân bổ phúc lợi, làm cho doanh nghiệp phải có trách nhiệm và người dân phải có tiếng nói trong xã hội. Hiểu cách đó giúp cho chúng ta tiếp tục cải cách. Còn nếu cứ bám chặt vào các khái niệm cũ thì chúng ta tự giam chúng ta trong lâu đài quan niệm.
Gần đây một số học giả nói nhiều về các nhóm lợi ích tác động đến chính sách, gây bất bình đẳng trong kinh doanh, trong xã hội. Vậy đâu là tính công bằng của chủ nghĩa xã hội, theo ông?
Quả thật khác với cách đây mười năm, các nhóm lợi ích ngày nay không còn che giấu vai trò ngày càng tích cực của họ trong việc vận động chính sách. Ví dụ như các tập đoàn thường xuyên có các cuộc gặp với lãnh đạo hay tham gia vào đề xuất chính sách. Vì vậy, nhiều người đánh giá luật kinh tế của Việt Nam có lợi thứ nhất cho Nhà nước để quản lý, thứ hai cho các tập đoàn và doanh nhân. Còn người tiêu dùng không được gì. Ví dụ, anh thử đi mua một căn hộ đi, anh có được đàm phán với người bán căn hộ về hợp đồng không? Anh sẽ thấy trong bối cảnh bất cân xứng về thông tin, cuộc chơi thuộc về người có tiền và quyền lực.
Ví dụ cụ thể về vấn đề này, theo cách hiểu của ông, là việc gần đây bộ Tư pháp và tổng cục Thuế ký hợp đồng hỗ trợ tư pháp cho Petro Vietnam có phải không?
Đó là một hành vi không khéo về chính trị. Vì bộ Tư pháp là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành luật pháp cho quốc gia chứ không phải cho một doanh nghiệp.
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá cao, nên cần nhiều đất đai. Nhà nước đã quy định là doanh nghiệp lấy đất cần trực tiếp thoả thuận với dân nhưng hầu như chính quyền địa phương lại làm thay họ. Kết cục là người dân bị thu hồi đất mà không thể kêu. Ông bình luận thế nào về hiện tượng này?
Đó là một câu hỏi hay. Cần nghiên cứu thêm về vấn đề đó. Còn cá nhân tôi chỉ nói là Nhà nước mà bảo lãnh cho doanh nghiệp, đi vay vốn, làm thay doanh nghiệp là điều không nên.
Ông có thể nói gì thêm về khái niệm sở hữu toàn dân?
Tôi đã từng nói công khai rằng sở hữu toàn dân là một khái niệm chính trị. Chừng nào mà khái niệm chính trị đó không có hại thì không sao. Nhưng dưới cái mũ sở hữu toàn dân nó đã gây ra rất nhiều bất công, làm cho sở hữu của toàn dân tộc rơi vào tay của những nhóm người có ảnh hưởng. Vì vậy, cần có những khái niệm có thể dùng được để bảo vệ lợi ích quốc gia và phúc lợi công bằng.
Chúng tôi quan niệm Nhà nước chỉ là một thành tố trong quốc gia và vì thế sở hữu phải của nhiều thế hệ. Ví dụ như bờ biển, sông ngòi, rừng,… Ngoài ra, còn đòi hỏi phải có sự phân quyền rạch ròi cho chính quyền địa phương… Vì thế chúng tôi cho rằng nên thay đổi quan niệm chính trị sở hữu toàn dân thành quan niệm pháp lý rạch ròi hơn, là pháp nhân quốc gia.
Pháp nhân quốc gia hình thành ở hai cấp độ, cấp toàn quốc và cấp chính quyền địa phương. Điều này sẽ dẫn đến luận điểm chắc chắn là toàn bộ tài sản đấy thuộc về một cơ quan quản lý công sản. Một bộ hay một sở không thể bán trụ sở của mình.
Mới đây một số sở tư nhân hoá trụ sở là hiện tượng quá lạm quyền bởi lẽ sở chỉ là cơ quan giúp việc cho chính quyền địa phương. Chỉ có cơ quan quản lý công sản mới có quyền đó.
Thế thì, nếu chuyển đổi như vậy sẽ giúp minh định rõ hơn trách nhiệm của chính phủ với khối tài sản quốc gia. Nếu chính phủ không quản lý được thì quốc hội mới chất vấn và buộc chính phủ chịu trách nhiệm. Càng không nên để chính phủ có quá nhiều quyền trong việc tiêu dùng tài sản quốc gia.
Ví dụ một bộ lại giao cho hai ông làm chủ tịch hai tập đoàn. Hai người đó có quyền biểu quyết khổng lồ với khối tài sản. Bên cạnh đó, tài sản của hàng ngàn năm tích lũy như bờ biển hay đảo đang bị tư nhân hoá. Đó là bi kịch đã diễn ra trong năm năm vừa rồi. Khối lượng công sản đã vào tay tư nhân tăng lên khủng khiếp. Anh có thể thấy hiện tượng tư nhân hoá ở khắp nơi.
Nhưng sở hữu toàn dân là khái niệm gắn với thể chế. Làm sao mà sửa được?
Luật sinh ra để phục vụ con người, không phải là những thứ bất biến. Nếu luật pháp không hợp với thời đại thì phải sửa, thì luật mới sống.
Không có gì không làm được. Nếu không sửa được hiến pháp thì người ta phải giải thích hiến pháp, hay phải ban hành đạo luật cắt nghĩa hiến pháp. Hay một cách khác, nếu nó khó sửa quá thì tôi đưa ra công cụ thay thế, cho vào đó linh hồn mới rồi giải thích nó theo nghĩa mới.
Cả cuộc cải cách của Việt Nam trong bốn năm liền từ sau 1986 đã diễn ra kinh tế tư bản tư nhân nhưng có sửa hiến pháp năm 80 đâu. Đến năm 92 mới sửa đấy thôi.
Tức là sửa khái niệm này về mặt thực tế thì chả khó gì cả.
Hiện nay, ông thấy sức ép đó ở mức độ nào?
Một đất nước tồn tại nó có những cán cân. Nhưng hiện nay đất đai cho nông nghiệp suy giảm, sông Mekong bị đe doạ, người nông dân khiếu kiện tập thể tăng lên, sự bức bối trong làng xã tăng lên, nông dân chán ruộng,… Anh sẽ thấy sức ép dữ dội xuất phát từ những nông dân không còn duy trì cuộc sống của họ được nữa.
Tư Giang (thực hiện)
Sài Gòn Tiếp Thị trao đổi thêm với TS Nghĩa về chủ đề này.
Ông đã đề cập đến vấn đề cốt lõi mà chủ nghĩa xã hội hướng tới. Có cách giải quyết nào tốt hơn không?
Có học giả quốc tế gần đây bình luận rằng người Trung Quốc coi chủ nghĩa xã hội như là một brand name (thương hiệu). Dưới chữ đó người ta có thể hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu bám vào học thuyết cũ mà coi chủ nghĩa xã hội với những nền tảng số một là doanh nghiệp nhà nước, số hai là sở hữu toàn dân về các loại tư liệu sản xuất, số ba là nền kinh tế chỉ huy thì thất bại. Vì thế Trung Quốc và các nước cộng sản phải chuyển đổi cách hiểu một cách uyển chuyển. Người Việt Nam cũng như thế thôi, chúng ta đã cải cách bằng uyển ngữ, những ngôn ngữ có thể phát huy được các sức mạnh xã hội. Vậy phải tìm cách định nghĩa lại những giá trị xã hội chủ nghĩa cho nó tử tế hơn, nhân văn hơn, linh hoạt hơn.
Chúng tôi đi theo hướng thứhai, coi chủ nghĩa xã hội là phúc lợi được chia một cách công bằng cho các nhóm, đặc biệt là nhóm yếu thế. Chủ nghĩa xã hội là quan niệm về phân bổ phúc lợi, làm cho doanh nghiệp phải có trách nhiệm và người dân phải có tiếng nói trong xã hội. Hiểu cách đó giúp cho chúng ta tiếp tục cải cách. Còn nếu cứ bám chặt vào các khái niệm cũ thì chúng ta tự giam chúng ta trong lâu đài quan niệm.
Gần đây một số học giả nói nhiều về các nhóm lợi ích tác động đến chính sách, gây bất bình đẳng trong kinh doanh, trong xã hội. Vậy đâu là tính công bằng của chủ nghĩa xã hội, theo ông?
Quả thật khác với cách đây mười năm, các nhóm lợi ích ngày nay không còn che giấu vai trò ngày càng tích cực của họ trong việc vận động chính sách. Ví dụ như các tập đoàn thường xuyên có các cuộc gặp với lãnh đạo hay tham gia vào đề xuất chính sách. Vì vậy, nhiều người đánh giá luật kinh tế của Việt Nam có lợi thứ nhất cho Nhà nước để quản lý, thứ hai cho các tập đoàn và doanh nhân. Còn người tiêu dùng không được gì. Ví dụ, anh thử đi mua một căn hộ đi, anh có được đàm phán với người bán căn hộ về hợp đồng không? Anh sẽ thấy trong bối cảnh bất cân xứng về thông tin, cuộc chơi thuộc về người có tiền và quyền lực.
Ví dụ cụ thể về vấn đề này, theo cách hiểu của ông, là việc gần đây bộ Tư pháp và tổng cục Thuế ký hợp đồng hỗ trợ tư pháp cho Petro Vietnam có phải không?
Đó là một hành vi không khéo về chính trị. Vì bộ Tư pháp là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành luật pháp cho quốc gia chứ không phải cho một doanh nghiệp.
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá cao, nên cần nhiều đất đai. Nhà nước đã quy định là doanh nghiệp lấy đất cần trực tiếp thoả thuận với dân nhưng hầu như chính quyền địa phương lại làm thay họ. Kết cục là người dân bị thu hồi đất mà không thể kêu. Ông bình luận thế nào về hiện tượng này?
Đó là một câu hỏi hay. Cần nghiên cứu thêm về vấn đề đó. Còn cá nhân tôi chỉ nói là Nhà nước mà bảo lãnh cho doanh nghiệp, đi vay vốn, làm thay doanh nghiệp là điều không nên.
Ông có thể nói gì thêm về khái niệm sở hữu toàn dân?
Tôi đã từng nói công khai rằng sở hữu toàn dân là một khái niệm chính trị. Chừng nào mà khái niệm chính trị đó không có hại thì không sao. Nhưng dưới cái mũ sở hữu toàn dân nó đã gây ra rất nhiều bất công, làm cho sở hữu của toàn dân tộc rơi vào tay của những nhóm người có ảnh hưởng. Vì vậy, cần có những khái niệm có thể dùng được để bảo vệ lợi ích quốc gia và phúc lợi công bằng.
Chúng tôi quan niệm Nhà nước chỉ là một thành tố trong quốc gia và vì thế sở hữu phải của nhiều thế hệ. Ví dụ như bờ biển, sông ngòi, rừng,… Ngoài ra, còn đòi hỏi phải có sự phân quyền rạch ròi cho chính quyền địa phương… Vì thế chúng tôi cho rằng nên thay đổi quan niệm chính trị sở hữu toàn dân thành quan niệm pháp lý rạch ròi hơn, là pháp nhân quốc gia.
Pháp nhân quốc gia hình thành ở hai cấp độ, cấp toàn quốc và cấp chính quyền địa phương. Điều này sẽ dẫn đến luận điểm chắc chắn là toàn bộ tài sản đấy thuộc về một cơ quan quản lý công sản. Một bộ hay một sở không thể bán trụ sở của mình.
Mới đây một số sở tư nhân hoá trụ sở là hiện tượng quá lạm quyền bởi lẽ sở chỉ là cơ quan giúp việc cho chính quyền địa phương. Chỉ có cơ quan quản lý công sản mới có quyền đó.
Thế thì, nếu chuyển đổi như vậy sẽ giúp minh định rõ hơn trách nhiệm của chính phủ với khối tài sản quốc gia. Nếu chính phủ không quản lý được thì quốc hội mới chất vấn và buộc chính phủ chịu trách nhiệm. Càng không nên để chính phủ có quá nhiều quyền trong việc tiêu dùng tài sản quốc gia.
Ví dụ một bộ lại giao cho hai ông làm chủ tịch hai tập đoàn. Hai người đó có quyền biểu quyết khổng lồ với khối tài sản. Bên cạnh đó, tài sản của hàng ngàn năm tích lũy như bờ biển hay đảo đang bị tư nhân hoá. Đó là bi kịch đã diễn ra trong năm năm vừa rồi. Khối lượng công sản đã vào tay tư nhân tăng lên khủng khiếp. Anh có thể thấy hiện tượng tư nhân hoá ở khắp nơi.
Nhưng sở hữu toàn dân là khái niệm gắn với thể chế. Làm sao mà sửa được?
Luật sinh ra để phục vụ con người, không phải là những thứ bất biến. Nếu luật pháp không hợp với thời đại thì phải sửa, thì luật mới sống.
Không có gì không làm được. Nếu không sửa được hiến pháp thì người ta phải giải thích hiến pháp, hay phải ban hành đạo luật cắt nghĩa hiến pháp. Hay một cách khác, nếu nó khó sửa quá thì tôi đưa ra công cụ thay thế, cho vào đó linh hồn mới rồi giải thích nó theo nghĩa mới.
Cả cuộc cải cách của Việt Nam trong bốn năm liền từ sau 1986 đã diễn ra kinh tế tư bản tư nhân nhưng có sửa hiến pháp năm 80 đâu. Đến năm 92 mới sửa đấy thôi.
Tức là sửa khái niệm này về mặt thực tế thì chả khó gì cả.
Hiện nay, ông thấy sức ép đó ở mức độ nào?
Một đất nước tồn tại nó có những cán cân. Nhưng hiện nay đất đai cho nông nghiệp suy giảm, sông Mekong bị đe doạ, người nông dân khiếu kiện tập thể tăng lên, sự bức bối trong làng xã tăng lên, nông dân chán ruộng,… Anh sẽ thấy sức ép dữ dội xuất phát từ những nông dân không còn duy trì cuộc sống của họ được nữa.
Tư Giang (thực hiện)
17 phím tắt vô giá trên bàn phím
http://nld.com.vn/20100916032554920P0C1039/17-phim-tat-vo-gia-tren-ban-phim.htm
F2: Đặt lại tên file trong lúc vội vàng có thể khiến bạn dễ dàng thao tác sai - click quá nhanh và bạn tình cờ mở một file. Đơn giản hơn là hãy nhấn phím F2 trên bàn phím khi file được chọn.
Ctrl + F2: Preview (xem sơ lược) văn bản. Muốn bỏ chế độ preview, làm lại Ctrl + F2.
Shift + F3: Để làm nổi bật đoạn văn bản bằng chữ in hoa, đơn giản là bôi đen đoạn văn bản, nhấn đồng thời phím Shift + F3. Nếu muốn cho đoạn văn bản trở lại chữ thường, hãy lập lại động tác nhấn đồng thời Shift + F3. Muốn cho chữ cái đầu tiên trở thành chữ in hoa, đặt con trỏ trước chữ đó và nhấn phím Shift + F3.
Windows + E: Windows Explorer là cổng tới file và tài liệu của bạn, song để mở nó thường phải liên quan đến desktop hoặc thanh Start Menu. Có một cách khác nhanh hơn là nhấn phím Windows-E và nó sẽ đưa bạn đến ngay Computer (Vista) hay My Computer (XP), một vị trí mặc định sẵn.
Windows + F: Tìm kiếm file có thể là một rắc rối nếu bạn là một người tích trữ tài liệu và cách không lãng phí thời gian săn tìm file là sử dụng phím tắt , sẽ mở ra một cửa sổ tìm kiếm và điền vào càng nhiều thông tin có thể về file bạn đang cần tìm.
Windows + L: Động tác này sẽ khóa ngay PC của bạn mà không cần chờ cho đến khi chế độ bảo vệ màn hình hoạt động.
Windows + M: Vào cuối ngày làm việc, mọi người bị bội thực với một bộ sưu tập các cửa sổ đang mở. sẽ thu nhỏ những cửa sổ này để lộ ra màn hình chính (desktop) và sẽ khôi phục lại những thứ bạn đã bị thu nhỏ trước đó.
Windows + R: Hộp Run này là cách tiết kiệm thời gian cực lớn với XP. Từ đây, bạn có thể mở tất cả loại ứng dụng mà không cần chuột.
Windows + F1: Trong khi F1 sẽ đưa ra cho bạn file Help (Hỗ trợ) trong hầu hết các ứng dụng, sẽ mở cửa sổ Windows Help. Điều này có thể giúp bạn tiết kiệm thời gian khi bạn không thể nhớ làm thế nào thay đổi một sự sắp đặt hoặc tìm một tính năng nhất định.
Windows + Tab: Chuyển dịch giữa các chương trình bạn đang sử dụng. Ở XP, bạn có thể chuyển các cửa sổ bằng cách nhấn phím để chọn đơn vị taskbar với màu sắc khác (xám hoặc xanh) để nhấn mạnh, rồi dùng các phím điều hướng lên hoặc xuống. Nhấn phím Enter sẽ đưa bạn đến cửa sổ đã được lựa chọn.
Windows + Pause/Break: Với những người nâng cấp và điều chỉnh phần cứng, truy cập quản lý thiết bị Device Manager và các cài đặt là một nhiệm vụ thường xuyên. Phím tắt này sẽ đem lại ngay cửa sổ cần thiết cho họ trong nháy mắt.
Shift + Delete: Thùng rác Recycle Bin là chỗ tuyệt vời dành cho những ai hay xóa các file mà không suy nghĩ song nó cũng tiềm ẩn nguy cơ cho phép người khác có thể truy cập vào các file nhạy cảm. Giữ phím (hoặc giữ phím Shift trong khi kéo file hoặc tệp vào thùng rác). Các file sẽ bị xóa ngay tức thì.
Ctrl + Enter: Một khi bạn đã chọ thanh địa chỉ trong trình duyệt Firefox hoặc Internet Explorer, bạn có thể tiết kiệm thời gian bằng việc gõ chỉ phần giữa của một tên miền. sẽ thêm www. và .com cho bạn. thêm www. Và .org.
Alt + Esc: Nếu bạn cần chuyển nhanh đến một cửa sổ khi đang làm việc ở một cửa sổ khác, bạn có thể chọn nó từ thanh taskbar. sẽ “khử” cửa sổ phía sau của bạn và đưa bạn đến một cửa sổ kế ngay đó.
Alt + F4: Bỏ ứng dụng đang hoạt động hoặc tắt Windows nếu không có ứng dụng nào.
Alt + PrtScrn: Nếu bạn cần chụp một cửa sổ, chỉ cần giữ để tóm được một cửa sổ hoạt động.
Alt + Backspace: Trong Microsoft Office, bạn có thể làm lại bất kỳ hiệu chỉnh tự động nào và định dạng tự động bằng việc nhẫn phím .
F2: Đặt lại tên file trong lúc vội vàng có thể khiến bạn dễ dàng thao tác sai - click quá nhanh và bạn tình cờ mở một file. Đơn giản hơn là hãy nhấn phím F2 trên bàn phím khi file được chọn.
Ctrl + F2: Preview (xem sơ lược) văn bản. Muốn bỏ chế độ preview, làm lại Ctrl + F2.
Shift + F3: Để làm nổi bật đoạn văn bản bằng chữ in hoa, đơn giản là bôi đen đoạn văn bản, nhấn đồng thời phím Shift + F3. Nếu muốn cho đoạn văn bản trở lại chữ thường, hãy lập lại động tác nhấn đồng thời Shift + F3. Muốn cho chữ cái đầu tiên trở thành chữ in hoa, đặt con trỏ trước chữ đó và nhấn phím Shift + F3.
Windows + E: Windows Explorer là cổng tới file và tài liệu của bạn, song để mở nó thường phải liên quan đến desktop hoặc thanh Start Menu. Có một cách khác nhanh hơn là nhấn phím Windows-E và nó sẽ đưa bạn đến ngay Computer (Vista) hay My Computer (XP), một vị trí mặc định sẵn.
Windows + F: Tìm kiếm file có thể là một rắc rối nếu bạn là một người tích trữ tài liệu và cách không lãng phí thời gian săn tìm file là sử dụng phím tắt , sẽ mở ra một cửa sổ tìm kiếm và điền vào càng nhiều thông tin có thể về file bạn đang cần tìm.
Windows + L: Động tác này sẽ khóa ngay PC của bạn mà không cần chờ cho đến khi chế độ bảo vệ màn hình hoạt động.
Windows + M: Vào cuối ngày làm việc, mọi người bị bội thực với một bộ sưu tập các cửa sổ đang mở. sẽ thu nhỏ những cửa sổ này để lộ ra màn hình chính (desktop) và sẽ khôi phục lại những thứ bạn đã bị thu nhỏ trước đó.
Windows + R: Hộp Run này là cách tiết kiệm thời gian cực lớn với XP. Từ đây, bạn có thể mở tất cả loại ứng dụng mà không cần chuột.
Windows + F1: Trong khi F1 sẽ đưa ra cho bạn file Help (Hỗ trợ) trong hầu hết các ứng dụng, sẽ mở cửa sổ Windows Help. Điều này có thể giúp bạn tiết kiệm thời gian khi bạn không thể nhớ làm thế nào thay đổi một sự sắp đặt hoặc tìm một tính năng nhất định.
Windows + Tab: Chuyển dịch giữa các chương trình bạn đang sử dụng. Ở XP, bạn có thể chuyển các cửa sổ bằng cách nhấn phím để chọn đơn vị taskbar với màu sắc khác (xám hoặc xanh) để nhấn mạnh, rồi dùng các phím điều hướng lên hoặc xuống. Nhấn phím Enter sẽ đưa bạn đến cửa sổ đã được lựa chọn.
Windows + Pause/Break: Với những người nâng cấp và điều chỉnh phần cứng, truy cập quản lý thiết bị Device Manager và các cài đặt là một nhiệm vụ thường xuyên. Phím tắt này sẽ đem lại ngay cửa sổ cần thiết cho họ trong nháy mắt.
Shift + Delete: Thùng rác Recycle Bin là chỗ tuyệt vời dành cho những ai hay xóa các file mà không suy nghĩ song nó cũng tiềm ẩn nguy cơ cho phép người khác có thể truy cập vào các file nhạy cảm. Giữ phím (hoặc giữ phím Shift trong khi kéo file hoặc tệp vào thùng rác). Các file sẽ bị xóa ngay tức thì.
Ctrl + Enter: Một khi bạn đã chọ thanh địa chỉ trong trình duyệt Firefox hoặc Internet Explorer, bạn có thể tiết kiệm thời gian bằng việc gõ chỉ phần giữa của một tên miền. sẽ thêm www. và .com cho bạn. thêm www. Và .org.
Alt + Esc: Nếu bạn cần chuyển nhanh đến một cửa sổ khi đang làm việc ở một cửa sổ khác, bạn có thể chọn nó từ thanh taskbar. sẽ “khử” cửa sổ phía sau của bạn và đưa bạn đến một cửa sổ kế ngay đó.
Alt + F4: Bỏ ứng dụng đang hoạt động hoặc tắt Windows nếu không có ứng dụng nào.
Alt + PrtScrn: Nếu bạn cần chụp một cửa sổ, chỉ cần giữ để tóm được một cửa sổ hoạt động.
Alt + Backspace: Trong Microsoft Office, bạn có thể làm lại bất kỳ hiệu chỉnh tự động nào và định dạng tự động bằng việc nhẫn phím .
Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010
Doanh nghiệp chấm điểm các bộ: Không có điểm tốt!
Các bộ Công Thương, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư chỉ chớm ngưỡng điểm khá, Ngân hàng Nhà nước dẫn đầu nhóm trung bình, trong khi Xây dựng và Y tế ở cuối bảng xếp hạng chỉ số LDEA.
Sáng 8/9, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã công bố báo cáo đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các bộ liên quan đến doanh nghiệp (LDEA 2010) với kết quả xếp hạng của 14 bộ (bao gồm cả Ngân hàng Nhà nước).
Đa số các bộ chỉ đạt điểm trung bình
Phản ánh ý kiến đánh giá của 124 hiệp hội doanh nghiệp trên toàn quốc, phân theo 2 chỉ tiêu chính là xây dựng và thi hành pháp luật, nhóm nghiên cứu chỉ số LDEA cho rằng chất lượng các hoạt động này của 14 bộ là không cao.
Ở mức cao nhất, các bộ Công Thương, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động - Thương binh và Xã hội cũng chỉ đạt từ 6,13-6,05 điểm trên thang điểm 10. Trong khi đó, Bộ Xây dựng và Y tế chỉ đạt 4,74 và 4,66 điểm, ở vào nhóm tương đối thấp.
Một nửa trong tổng số các bộ rơi vào nhóm trung bình, gồm Ngân hàng Nhà nước (5,92 điểm), Bộ Tư pháp (5,9 điểm), Bộ Khoa học và Công nghệ (5,87), Bộ Thông tin và Truyền thông (5,68), Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (5,45), Bộ Tài nguyên và Môi trường (5,16) và Bộ Giao thông Vận tải (5,07).
Tuy nhiên, khi “chẻ” nhỏ các chỉ tiêu chính, đáng chú ý là chất lượng hoạt động lấy ý kiến xây dựng pháp luật ở mức khá (6,55 điểm), song chất lượng văn bản quy phạm pháp luật lại chỉ đạt mức trung bình (5,71 điểm). Các hiệp hội cũng đánh giá khá thấp chỉ tiêu tiếp cận thông tin pháp luật (4,09 điểm).
Theo nhóm nghiên cứu, ý kiến của các hiệp hội cho thấy hoạt động lấy ý kiến xây dựng pháp luật của các bộ hiện nay là tương đối tốt, cụ thể là mức độ công khai lấy ý kiến xây dựng pháp luật liên quan tới quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp.
“Tuy nhiên, các hiệp hội đánh giá về mức độ cầu thị của các bộ chưa cao, không có bộ nào được xếp loại tốt, hầu hết chỉ xếp ở loại khá hoặc trung bình”, báo cáo cho biết.
Liên quan đến vấn đề này, Phó tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI Trần Hữu Huỳnh cho biết, mức độ cầu thị của các bộ nói chung là yếu, văn hóa đối thoại giữa nhà nước và các doanh nghiệp còn chưa phổ biến.
Đồng tình với quan điểm này, ông Đặng Văn Thanh, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội cho rằng, có nhiều trường hợp việc xin ý kiến góp ý văn bản pháp luật của các bộ còn mang tính hình thức.
3 khó khăn của hiệp hội doanh nghiệp
Có 3 khó khăn lớn nhất đối với các hiệp hội được rút ra từ báo cáo của VCCI. Thứ nhất, khả năng tiếp cận thông tin, thể hiện ở cả hai nội dung: tiếp cận các thông tin xây dựng pháp luật và các quy định pháp luật sau khi được ban hành.
Thứ hai, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật không cao dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng, thể hiện ở chỗ pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội phát sinh, còn chồng chéo, mâu thuẫn, pháp luật không rõ ràng.
Thứ ba, các hoạt động thi hành pháp luật của các bộ còn chưa tháo gỡ được khó khăn cho doanh nghiệp, hiệp hội.
Các hiệp hội cho rằng họ gặp khó khăn nhất trong việc tiếp cận tới các thông tin xây dựng pháp luật để có thể tham gia góp ý, hoặc là không thể tiếp cận được tới các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hoặc là không được mời tham gia góp ý đối với những dự thảo đó.
Bên cạnh đó, nhiều hiệp hội cho rằng việc xây dựng pháp luật hiện hành vẫn còn thiên về tạo thuận lợi cho các cơ quan nhà nước mà chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp.
Theo các hiệp hội, việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện của các bộ hiện nay vẫn còn chậm, chưa đáp ứng thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Nhiều bộ chậm giải quyết khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát chưa hiệu quả dẫn đến tham nhũng và lãng phí. Chế tài, mức xử phạt chưa cụ thể, khung áp dụng rộng dễ gây ra tình trạng thiếu thống nhất trong thực tế.
Bên cạnh đó, các Bộ vẫn chưa có hướng dẫn kịp thời để bảo đảm việc áp dụng đồng bộ, thống nhất pháp luật tại các địa phương.
Thành lập doanh nghiệp dễ, xin đất khó
Một điểm đáng chú ý trong báo cáo đánh giá LDEA là nghiên cứu đề cập đến chất lượng văn bản quy phạm pháp luật thuộc 27 lĩnh vực liên quan nhất đến doanh nghiệp dựa trên phân ngành kinh tế quốc dân.
Kết quả cho thấy có sự phân biệt khá lớn giữa lĩnh vực có điểm số cao nhất. Trong khi thành lập doanh nghiệp được cho là đã thông thoáng hơn với cơ chế một cửa vận hành khá trơn chu, lĩnh vực đất đai được xem là có nhiều vướng mắc nhất, liên quan đến xây dựng và thực thi pháp luật.
Ở nhóm điểm khá gồm có thành lập, hoạt động, giải thể doanh nghiệp (6,49 điểm), sở hữu trí tuệ (6,48 điểm), kế toán, kiểm toán (6,47 điểm)…Các lĩnh vực có điểm số thấp nhất là đấu thầu (4,7 điểm), giao thông vận tải (4,54 điểm), thuế phí lệ phí (4,44 điểm), xây dựng bất động sản (4,11 điểm), đất đai (4,06 điểm).
Khu vực điểm số trung bình đáng chú ý có ngân hàng (5,76 điểm), công nghiệp (5,72 điểm), cạnh tranh (5,64 điểm), xuất nhập khẩu (5,6 điểm), bảo hiểm (5,34 điểm), hải quan (5,27 điểm), đầu tư (5,27 điểm), chứng khoán (5,26 điểm)…
Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh Nguyễn Phương Bắc cho rằng, những bộ có điểm số thấp không hẳn cán bộ ở đó không có năng lực, kém cởi mở, hay lĩnh vực họ phụ trách chậm chuyển biến mà còn do sự phức tạp của từng vấn đề khác nhau.
Nhiều đại biểu đồng tình rằng với kết quả này, dù rằng còn nhiều vấn đề bàn cãi song cũng đủ làm cơ sở cho các bộ trưởng “soi” vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật của ngành mình.
Sáng 8/9, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã công bố báo cáo đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các bộ liên quan đến doanh nghiệp (LDEA 2010) với kết quả xếp hạng của 14 bộ (bao gồm cả Ngân hàng Nhà nước).
Đa số các bộ chỉ đạt điểm trung bình
Phản ánh ý kiến đánh giá của 124 hiệp hội doanh nghiệp trên toàn quốc, phân theo 2 chỉ tiêu chính là xây dựng và thi hành pháp luật, nhóm nghiên cứu chỉ số LDEA cho rằng chất lượng các hoạt động này của 14 bộ là không cao.
Ở mức cao nhất, các bộ Công Thương, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động - Thương binh và Xã hội cũng chỉ đạt từ 6,13-6,05 điểm trên thang điểm 10. Trong khi đó, Bộ Xây dựng và Y tế chỉ đạt 4,74 và 4,66 điểm, ở vào nhóm tương đối thấp.
Một nửa trong tổng số các bộ rơi vào nhóm trung bình, gồm Ngân hàng Nhà nước (5,92 điểm), Bộ Tư pháp (5,9 điểm), Bộ Khoa học và Công nghệ (5,87), Bộ Thông tin và Truyền thông (5,68), Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (5,45), Bộ Tài nguyên và Môi trường (5,16) và Bộ Giao thông Vận tải (5,07).
Tuy nhiên, khi “chẻ” nhỏ các chỉ tiêu chính, đáng chú ý là chất lượng hoạt động lấy ý kiến xây dựng pháp luật ở mức khá (6,55 điểm), song chất lượng văn bản quy phạm pháp luật lại chỉ đạt mức trung bình (5,71 điểm). Các hiệp hội cũng đánh giá khá thấp chỉ tiêu tiếp cận thông tin pháp luật (4,09 điểm).
Theo nhóm nghiên cứu, ý kiến của các hiệp hội cho thấy hoạt động lấy ý kiến xây dựng pháp luật của các bộ hiện nay là tương đối tốt, cụ thể là mức độ công khai lấy ý kiến xây dựng pháp luật liên quan tới quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp.
“Tuy nhiên, các hiệp hội đánh giá về mức độ cầu thị của các bộ chưa cao, không có bộ nào được xếp loại tốt, hầu hết chỉ xếp ở loại khá hoặc trung bình”, báo cáo cho biết.
Liên quan đến vấn đề này, Phó tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI Trần Hữu Huỳnh cho biết, mức độ cầu thị của các bộ nói chung là yếu, văn hóa đối thoại giữa nhà nước và các doanh nghiệp còn chưa phổ biến.
Đồng tình với quan điểm này, ông Đặng Văn Thanh, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội cho rằng, có nhiều trường hợp việc xin ý kiến góp ý văn bản pháp luật của các bộ còn mang tính hình thức.
3 khó khăn của hiệp hội doanh nghiệp
Có 3 khó khăn lớn nhất đối với các hiệp hội được rút ra từ báo cáo của VCCI. Thứ nhất, khả năng tiếp cận thông tin, thể hiện ở cả hai nội dung: tiếp cận các thông tin xây dựng pháp luật và các quy định pháp luật sau khi được ban hành.
Thứ hai, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật không cao dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng, thể hiện ở chỗ pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội phát sinh, còn chồng chéo, mâu thuẫn, pháp luật không rõ ràng.
Thứ ba, các hoạt động thi hành pháp luật của các bộ còn chưa tháo gỡ được khó khăn cho doanh nghiệp, hiệp hội.
Các hiệp hội cho rằng họ gặp khó khăn nhất trong việc tiếp cận tới các thông tin xây dựng pháp luật để có thể tham gia góp ý, hoặc là không thể tiếp cận được tới các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hoặc là không được mời tham gia góp ý đối với những dự thảo đó.
Bên cạnh đó, nhiều hiệp hội cho rằng việc xây dựng pháp luật hiện hành vẫn còn thiên về tạo thuận lợi cho các cơ quan nhà nước mà chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp.
Theo các hiệp hội, việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện của các bộ hiện nay vẫn còn chậm, chưa đáp ứng thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Nhiều bộ chậm giải quyết khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát chưa hiệu quả dẫn đến tham nhũng và lãng phí. Chế tài, mức xử phạt chưa cụ thể, khung áp dụng rộng dễ gây ra tình trạng thiếu thống nhất trong thực tế.
Bên cạnh đó, các Bộ vẫn chưa có hướng dẫn kịp thời để bảo đảm việc áp dụng đồng bộ, thống nhất pháp luật tại các địa phương.
Thành lập doanh nghiệp dễ, xin đất khó
Một điểm đáng chú ý trong báo cáo đánh giá LDEA là nghiên cứu đề cập đến chất lượng văn bản quy phạm pháp luật thuộc 27 lĩnh vực liên quan nhất đến doanh nghiệp dựa trên phân ngành kinh tế quốc dân.
Kết quả cho thấy có sự phân biệt khá lớn giữa lĩnh vực có điểm số cao nhất. Trong khi thành lập doanh nghiệp được cho là đã thông thoáng hơn với cơ chế một cửa vận hành khá trơn chu, lĩnh vực đất đai được xem là có nhiều vướng mắc nhất, liên quan đến xây dựng và thực thi pháp luật.
Ở nhóm điểm khá gồm có thành lập, hoạt động, giải thể doanh nghiệp (6,49 điểm), sở hữu trí tuệ (6,48 điểm), kế toán, kiểm toán (6,47 điểm)…Các lĩnh vực có điểm số thấp nhất là đấu thầu (4,7 điểm), giao thông vận tải (4,54 điểm), thuế phí lệ phí (4,44 điểm), xây dựng bất động sản (4,11 điểm), đất đai (4,06 điểm).
Khu vực điểm số trung bình đáng chú ý có ngân hàng (5,76 điểm), công nghiệp (5,72 điểm), cạnh tranh (5,64 điểm), xuất nhập khẩu (5,6 điểm), bảo hiểm (5,34 điểm), hải quan (5,27 điểm), đầu tư (5,27 điểm), chứng khoán (5,26 điểm)…
Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh Nguyễn Phương Bắc cho rằng, những bộ có điểm số thấp không hẳn cán bộ ở đó không có năng lực, kém cởi mở, hay lĩnh vực họ phụ trách chậm chuyển biến mà còn do sự phức tạp của từng vấn đề khác nhau.
Nhiều đại biểu đồng tình rằng với kết quả này, dù rằng còn nhiều vấn đề bàn cãi song cũng đủ làm cơ sở cho các bộ trưởng “soi” vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật của ngành mình.
Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2010
Lãi lớn nhờ chênh lệch lãi suất
http://sgtt.com.vn/Kinh-te/123241/Lai-lon-nho-chenh-lech-lai-suat.html
SGTT - Nhiều ngân hàng vẫn công bố lãi lớn dù ngay từ đầu năm nay, họ đã kêu khó như không còn hỗ trợ lãi suất, bị khống chế trần cho vay, sàn vàng đóng cửa... Nguồn thu chính cho lợi nhuận chủ yếu từ chênh lệch lãi suất.
Khiêm tốn nguồn thu từ dịch vụ
Theo công bố kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại, mặc dù khó khăn nhưng nhiều ngân hàng vẫn đạt mức tăng trưởng khá ấn tượng. Ngân hàng Phương Đông (OCB), chỉ riêng trong bốn tháng đầu năm, lãi tới 112 tỉ trước thuế, tăng 116% so với cùng kỳ.
Hay như ngân hàng Sài Gòn (SCB), bốn tháng đầu năm, SCB đạt lợi nhuận tới hơn 352 tỉ đồng, đạt mức tăng kỷ lục 370,16% so với cùng kỳ 2009. Hết tháng 4, ngân hàng An Bình (ABBANK) đạt lợi nhuận 204,44 tỉ đồng, tăng 180%; Kết thúc Quý I/2010, ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đạt trên 510 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế ), tăng 46% so với cùng kỳ năm 2009; LienViet Bank đạt 202 tỉ đồng; VCB trên 2.000 tỉ đồng…
Trong cơ cấu nguồn thu từ lợi nhuận, hoạt động thu từ dịch vụ của các ngân hàng khá khiêm tốn và chủ yếu vẫn từ hoạt động tín dụng.
Ví dụ như, trong cơ cấu thu nhập luỹ kế của Sacombank đến hết ngày 30.4, nguồn thu từ lãi (bao gồm tín dụng, kinh doanh vốn liên ngân hàng…) chiếm 64% và dịch vụ là 15%, còn lại là thu nhập ngoài lãi. Nguồn thu của VCB cũng vậy, thu từ lãi chiếm khoảng 55 – 60%, phần còn lại thuộc về hoạt động dịch vụ.
Theo ông Hưởng, về cơ bản, nguồn thu chính từ hoạt động ngân hàng trong bốn tháng đầu năm được hình thành từ lãi cho vay, đầu tư (góp vốn, tham gia thị trường tài chính chứng khoán, hoạt động phái sinh…) và dịch vụ. Nguồn thu từ dịch vụ chưa được kỳ vọng nhiều, vì trên thực tế, ngân hàng đang chịu lỗ từ những dịch vụ liên quan đến ATM, kể cả VCB. Hoạt động đầu tư trong bốn tháng đầu năm cũng không khả quan do doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh và đang chịu lãi suất cao. Riêng hoạt động đầu tư chứng khoán đã mang lại nguồn lợi nhuận không nhỏ do một số cổ phiếu trong danh mục đầu tư đã tăng trưởng 100% và ngân hàng được hoàn lại trích lập dự phòng rủi ro đầu tư tài chính năm trước và hạch toán vào lợi nhuận những tháng đầu năm. Còn hoạt động cho vay, dù giai đoạn khó khăn hay thuận lợi, nguồn thu từ hoạt động này bao giờ cũng là nguồn thu chính đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng.

Thu lợi từ chênh lệch lãi suất
Thống đốc ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu trả lời báo chí, tăng trưởng tín dụng năm tháng đầu năm chỉ đạt khoảng 8%. Tuy tăng thấp, nhưng theo ông Hưởng, sự chênh lệnh lớn giữa lãi suất huy động và cho vay đã đem lại nguồn thu chính cho ngân hàng có lợi thế về nguồn vốn rẻ.

Một nguồn thu nữa mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng tính đến giữa tháng 4.2010, đó là kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng. Trước khi bị siết, thị trường hai là nơi mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng có lợi thế về thanh khoản do lãi suất luôn cao hơn thị trường một. Với biến động lãi suất từ cuối tháng 2 đến giữa tháng 4, những ngân hàng có lợi thế về vốn đã kịp thu lợi rồi, ông Nguyễn Quyết Thắng, tổng giám đốc ngân hàng Dầu khí toàn cầu (GP.Bank), bình luận.
Ông Trần Xuân Quảng, phó tổng giám đốc ngân hàng Bảo Việt cho biết, nhìn một cách tổng quan thì lợi nhuận của ngân hàng đều từ hoạt động truyền thống là cho vay. Đặc biệt, một số ngân hàng đã hưởng lợi từ khi ngân hàng Nhà nước thực hiện lãi suất cho vay thoả thuận. Đầu tiên là đối với cho vay tiêu dùng, cho vay trung và dài hạn và cuối cùng thực hiện lãi suất thoả thuận hoàn toàn. Ngay sau khi quyết định đó được ban hành, các ngân hàng đã đẩy lãi suất cho vay và huy động lên cao. Tuy nhiên, với những ngân hàng có lợi thế về nguồn vốn rẻ thì lợi nhuận thu được giai đoạn này là rất lớn.
“Mặc dù Chính phủ có chủ trương giảm lãi suất huy động và cho vay xuống còn 10% và 12%, nhưng mặt bằng lãi suất khó giảm ngay. Vì vậy, lợi nhuận từ nay đến cuối năm của ngân hàng vẫn phải trông chờ vào tăng trưởng tín dụng và sau năm tháng chạy “rốt đa” thì từ tháng 6 tín dụng sẽ bật mạnh trở lại”, ông Quảng nhận xét.
Thực tế, một số ngân hàng như ACB phấn đấu đến cuối năm, tỷ trọng nguồn thu từ lãi (cả hoạt động tín dụng, kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng, trái phiếu…) chiếm khoảng 50% tổng nguồn thu đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng. ABBANK kỳ vọng nguồn thu từ dịch vụ lên 25% trong tổng doanh thu nhằm giảm sự phụ thuộc từ hoạt động cho vay…
Minh Huệ
SGTT - Nhiều ngân hàng vẫn công bố lãi lớn dù ngay từ đầu năm nay, họ đã kêu khó như không còn hỗ trợ lãi suất, bị khống chế trần cho vay, sàn vàng đóng cửa... Nguồn thu chính cho lợi nhuận chủ yếu từ chênh lệch lãi suất.
Khiêm tốn nguồn thu từ dịch vụ
Theo công bố kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại, mặc dù khó khăn nhưng nhiều ngân hàng vẫn đạt mức tăng trưởng khá ấn tượng. Ngân hàng Phương Đông (OCB), chỉ riêng trong bốn tháng đầu năm, lãi tới 112 tỉ trước thuế, tăng 116% so với cùng kỳ.
Hay như ngân hàng Sài Gòn (SCB), bốn tháng đầu năm, SCB đạt lợi nhuận tới hơn 352 tỉ đồng, đạt mức tăng kỷ lục 370,16% so với cùng kỳ 2009. Hết tháng 4, ngân hàng An Bình (ABBANK) đạt lợi nhuận 204,44 tỉ đồng, tăng 180%; Kết thúc Quý I/2010, ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đạt trên 510 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế ), tăng 46% so với cùng kỳ năm 2009; LienViet Bank đạt 202 tỉ đồng; VCB trên 2.000 tỉ đồng…
Trong cơ cấu nguồn thu từ lợi nhuận, hoạt động thu từ dịch vụ của các ngân hàng khá khiêm tốn và chủ yếu vẫn từ hoạt động tín dụng.
Ví dụ như, trong cơ cấu thu nhập luỹ kế của Sacombank đến hết ngày 30.4, nguồn thu từ lãi (bao gồm tín dụng, kinh doanh vốn liên ngân hàng…) chiếm 64% và dịch vụ là 15%, còn lại là thu nhập ngoài lãi. Nguồn thu của VCB cũng vậy, thu từ lãi chiếm khoảng 55 – 60%, phần còn lại thuộc về hoạt động dịch vụ.
Theo ông Hưởng, về cơ bản, nguồn thu chính từ hoạt động ngân hàng trong bốn tháng đầu năm được hình thành từ lãi cho vay, đầu tư (góp vốn, tham gia thị trường tài chính chứng khoán, hoạt động phái sinh…) và dịch vụ. Nguồn thu từ dịch vụ chưa được kỳ vọng nhiều, vì trên thực tế, ngân hàng đang chịu lỗ từ những dịch vụ liên quan đến ATM, kể cả VCB. Hoạt động đầu tư trong bốn tháng đầu năm cũng không khả quan do doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh và đang chịu lãi suất cao. Riêng hoạt động đầu tư chứng khoán đã mang lại nguồn lợi nhuận không nhỏ do một số cổ phiếu trong danh mục đầu tư đã tăng trưởng 100% và ngân hàng được hoàn lại trích lập dự phòng rủi ro đầu tư tài chính năm trước và hạch toán vào lợi nhuận những tháng đầu năm. Còn hoạt động cho vay, dù giai đoạn khó khăn hay thuận lợi, nguồn thu từ hoạt động này bao giờ cũng là nguồn thu chính đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng.

Thu lợi từ chênh lệch lãi suất
Thống đốc ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu trả lời báo chí, tăng trưởng tín dụng năm tháng đầu năm chỉ đạt khoảng 8%. Tuy tăng thấp, nhưng theo ông Hưởng, sự chênh lệnh lớn giữa lãi suất huy động và cho vay đã đem lại nguồn thu chính cho ngân hàng có lợi thế về nguồn vốn rẻ.

Một nguồn thu nữa mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng tính đến giữa tháng 4.2010, đó là kinh doanh trên thị trường liên ngân hàng. Trước khi bị siết, thị trường hai là nơi mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng có lợi thế về thanh khoản do lãi suất luôn cao hơn thị trường một. Với biến động lãi suất từ cuối tháng 2 đến giữa tháng 4, những ngân hàng có lợi thế về vốn đã kịp thu lợi rồi, ông Nguyễn Quyết Thắng, tổng giám đốc ngân hàng Dầu khí toàn cầu (GP.Bank), bình luận.
Ông Trần Xuân Quảng, phó tổng giám đốc ngân hàng Bảo Việt cho biết, nhìn một cách tổng quan thì lợi nhuận của ngân hàng đều từ hoạt động truyền thống là cho vay. Đặc biệt, một số ngân hàng đã hưởng lợi từ khi ngân hàng Nhà nước thực hiện lãi suất cho vay thoả thuận. Đầu tiên là đối với cho vay tiêu dùng, cho vay trung và dài hạn và cuối cùng thực hiện lãi suất thoả thuận hoàn toàn. Ngay sau khi quyết định đó được ban hành, các ngân hàng đã đẩy lãi suất cho vay và huy động lên cao. Tuy nhiên, với những ngân hàng có lợi thế về nguồn vốn rẻ thì lợi nhuận thu được giai đoạn này là rất lớn.
“Mặc dù Chính phủ có chủ trương giảm lãi suất huy động và cho vay xuống còn 10% và 12%, nhưng mặt bằng lãi suất khó giảm ngay. Vì vậy, lợi nhuận từ nay đến cuối năm của ngân hàng vẫn phải trông chờ vào tăng trưởng tín dụng và sau năm tháng chạy “rốt đa” thì từ tháng 6 tín dụng sẽ bật mạnh trở lại”, ông Quảng nhận xét.
Thực tế, một số ngân hàng như ACB phấn đấu đến cuối năm, tỷ trọng nguồn thu từ lãi (cả hoạt động tín dụng, kinh doanh vốn trên thị trường liên ngân hàng, trái phiếu…) chiếm khoảng 50% tổng nguồn thu đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng. ABBANK kỳ vọng nguồn thu từ dịch vụ lên 25% trong tổng doanh thu nhằm giảm sự phụ thuộc từ hoạt động cho vay…
Minh Huệ
Vì sao lãi suất ngân hàng chưa giảm?
http://sgtt.com.vn/Kinh-te/123253/Vi-sao-lai-suat-ngan-hang-chua-giam.html
Một số ngân hàng lại vào đợt tăng lãi suất huy động cả tiền đồng và USD, khuyến mãi thưởng tiền và lãi suất, chào mời các loại chứng từ có giá với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn. Có phải các ngân hàng thiếu vốn nên tăng lãi suất?
Bà Hai Loan, một cán bộ hưu trí ngụ quận Tân Bình vừa đi rút gốc 300 triệu đồng và hưởng trọn lãi ba tháng tiết kiệm từ một ngân hàng để gửi vào ngân hàng khác có mức lãi suất cao hơn, dù còn 21 tháng nữa mới đến kỳ đáo hạn tiền gửi của bà.
Tưởng dài... hoá ngắn
Đó là một trong những sản phẩm tiết kiệm của các ngân hàng hiện nay nhằm thu hút người gửi: cho phép khách hàng rút gốc trước hạn. Đa số các sản phẩm này đều là loại hình tiền gửi huy động dài hạn từ 2 – 3 năm, có đặc điểm chung là lãi suất cao và điều chỉnh linh hoạt theo lãi suất thị trường, người gửi được quyền rút trước hạn một phần hoặc toàn bộ tiền gốc bất cứ lúc nào mà vẫn bảo toàn lãi, có thể rút gốc và lãi vào mỗi cuối định kỳ...
Theo TS Lê Thẩm Dương, trưởng khoa quản trị kinh doanh đại học Ngân hàng TP.HCM, với sản phẩm này, các ngân hàng không những thoả được tâm lý thích gửi ngắn hạn của khách hàng, mà trên sổ sách vẫn thể hiện được là tiền gửi trung dài hạn.
Theo đó, không chỉ lách được ở giá tiền gửi (khuyến mãi, thưởng); các ngân hàng còn có thể cho vay trung dài hạn mà không bị vướng quy định chỉ được dùng không quá 30% vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Ông Hồ Hữu Hạnh, giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM, cho biết đối với các ngân hàng trên địa bàn, tiền gửi ngắn hạn chiếm khoảng 70 – 80%, trong đó đa số từ 1 – 3 tháng, trong khi kỳ hạn cho vay thường từ 3 – 6 tháng trở lên. Trong khi đó, theo cục Thống kê TP.HCM, dư nợ tín dụng trung dài hạn trong năm tháng đầu năm chiếm 45,4%. Do cơ cấu tiền gửi chủ yếu là kỳ hạn ngắn, ngân hàng dù huy động được nhiều, cũng gặp khó khăn với các khoản vay trung và dài hạn. Và đây cũng là một nguyên nhân đẩy chi phí vốn tăng cao, khiến ngân hàng khó giảm lãi suất.
Cũng theo cục Thống kê, tính đến đầu tháng 5, dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố đạt 571,8 ngàn tỉ đồng, tăng 4,4% so với đầu năm; sít sao với vốn huy động đạt 629,8 ngàn tỉ đồng. Tỷ lệ tín dụng trên huy động lên tới trên 90%, cho thấy các ngân hàng vẫn còn chật vật trong việc tìm nguồn vốn đầu vào.
“Thuốc” nào để giảm lãi suất?
Khảo sát tại một số ngân hàng, trong thời gian qua, họ cho vay với mức lãi suất dao động 14 – 17%/năm. Còn lãi suất huy động nếu cộng thêm khuyến mãi và thưởng, có mức 12 – 13%/năm. Trong khi đó, lãi suất đang được NHNN định hướng xuống, với lãi suất huy động 10%, lãi suất cho vay 12%/năm.
Trong đợt đấu thầu 2.000 tỉ đồng trái phiếu chính phủ vào cuối tháng 5, chỉ có 200 tỉ đồng trái phiếu trúng thầu với lãi suất 11,2%/năm, trong khi nhà đầu tư đòi mức lãi suất dao động 11,19 – 12,5%. Theo bà Hoàng Thị Hoa, trưởng phòng phân tích công ty chứng khoán Bản Việt (VCSC), trái phiếu chính phủ được đánh giá có mức độ rủi ro thấp hơn, nên lãi suất luôn thấp hơn lãi suất ngân hàng huy động ngoài thị trường dân cư. Vì vậy, để huy động được vốn, thì lãi suất ở ngân hàng phải cao hơn lãi suất trái phiếu, cụ thể là phải cao hơn mức 11,2%.
Ông Hồ Hữu Hạnh cho rằng, tâm lý người dân đang kỳ vọng một mức lãi suất tiết kiệm cao hơn, do lo ngại lạm phát trong năm nay. Một khi giảm được chỉ số tăng giá tiêu dùng thì lãi suất tiền gửi sẽ giảm, kéo lãi suất cho vay giảm theo.
Theo TS Lê Thẩm Dương, NHNN đang hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở nhưng các ngân hàng nhỏ không thể hưởng lợi nhiều trên thị trường này vì không nắm nhiều giấy tờ có giá. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại lại không được vay tại thị trường liên ngân hàng quá 20% tổng huy động ngoài thị trường dân cư. Muốn vay được trên thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng nhỏ phải tăng hút vốn ở thị trường dân cư. Để hút vốn được, thì lãi suất ở các ngân hàng này phải cao hơn những ngân hàng quy mô lớn.
Quy định 20% này đang khiến người vay thì không vay được, người có tiền đành ôm vốn. Vì vậy, dù lãi suất liên ngân hàng giảm những tuần gần đây, nhưng lãi suất ngoài thị trường dân cư vẫn cứ tịnh tiến.
Theo ông Dương, NHNN nên điều chỉnh lại nút thắt trên thị trường liên ngân hàng này bằng việc nâng tỷ lệ cao hơn mức 20%, hoặc quy định trên mức vốn chủ sở hữu, nếu không, ngân hàng sẽ còn lách lãi suất với nhiều hình thức tinh vi hơn.
HỒNG SƯƠNG
Một số ngân hàng lại vào đợt tăng lãi suất huy động cả tiền đồng và USD, khuyến mãi thưởng tiền và lãi suất, chào mời các loại chứng từ có giá với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn. Có phải các ngân hàng thiếu vốn nên tăng lãi suất?
Bà Hai Loan, một cán bộ hưu trí ngụ quận Tân Bình vừa đi rút gốc 300 triệu đồng và hưởng trọn lãi ba tháng tiết kiệm từ một ngân hàng để gửi vào ngân hàng khác có mức lãi suất cao hơn, dù còn 21 tháng nữa mới đến kỳ đáo hạn tiền gửi của bà.
Tưởng dài... hoá ngắn
Đó là một trong những sản phẩm tiết kiệm của các ngân hàng hiện nay nhằm thu hút người gửi: cho phép khách hàng rút gốc trước hạn. Đa số các sản phẩm này đều là loại hình tiền gửi huy động dài hạn từ 2 – 3 năm, có đặc điểm chung là lãi suất cao và điều chỉnh linh hoạt theo lãi suất thị trường, người gửi được quyền rút trước hạn một phần hoặc toàn bộ tiền gốc bất cứ lúc nào mà vẫn bảo toàn lãi, có thể rút gốc và lãi vào mỗi cuối định kỳ...
Theo TS Lê Thẩm Dương, trưởng khoa quản trị kinh doanh đại học Ngân hàng TP.HCM, với sản phẩm này, các ngân hàng không những thoả được tâm lý thích gửi ngắn hạn của khách hàng, mà trên sổ sách vẫn thể hiện được là tiền gửi trung dài hạn.
Theo đó, không chỉ lách được ở giá tiền gửi (khuyến mãi, thưởng); các ngân hàng còn có thể cho vay trung dài hạn mà không bị vướng quy định chỉ được dùng không quá 30% vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Ông Hồ Hữu Hạnh, giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM, cho biết đối với các ngân hàng trên địa bàn, tiền gửi ngắn hạn chiếm khoảng 70 – 80%, trong đó đa số từ 1 – 3 tháng, trong khi kỳ hạn cho vay thường từ 3 – 6 tháng trở lên. Trong khi đó, theo cục Thống kê TP.HCM, dư nợ tín dụng trung dài hạn trong năm tháng đầu năm chiếm 45,4%. Do cơ cấu tiền gửi chủ yếu là kỳ hạn ngắn, ngân hàng dù huy động được nhiều, cũng gặp khó khăn với các khoản vay trung và dài hạn. Và đây cũng là một nguyên nhân đẩy chi phí vốn tăng cao, khiến ngân hàng khó giảm lãi suất.
Cũng theo cục Thống kê, tính đến đầu tháng 5, dư nợ tín dụng trên địa bàn thành phố đạt 571,8 ngàn tỉ đồng, tăng 4,4% so với đầu năm; sít sao với vốn huy động đạt 629,8 ngàn tỉ đồng. Tỷ lệ tín dụng trên huy động lên tới trên 90%, cho thấy các ngân hàng vẫn còn chật vật trong việc tìm nguồn vốn đầu vào.
“Thuốc” nào để giảm lãi suất?
Khảo sát tại một số ngân hàng, trong thời gian qua, họ cho vay với mức lãi suất dao động 14 – 17%/năm. Còn lãi suất huy động nếu cộng thêm khuyến mãi và thưởng, có mức 12 – 13%/năm. Trong khi đó, lãi suất đang được NHNN định hướng xuống, với lãi suất huy động 10%, lãi suất cho vay 12%/năm.
Trong đợt đấu thầu 2.000 tỉ đồng trái phiếu chính phủ vào cuối tháng 5, chỉ có 200 tỉ đồng trái phiếu trúng thầu với lãi suất 11,2%/năm, trong khi nhà đầu tư đòi mức lãi suất dao động 11,19 – 12,5%. Theo bà Hoàng Thị Hoa, trưởng phòng phân tích công ty chứng khoán Bản Việt (VCSC), trái phiếu chính phủ được đánh giá có mức độ rủi ro thấp hơn, nên lãi suất luôn thấp hơn lãi suất ngân hàng huy động ngoài thị trường dân cư. Vì vậy, để huy động được vốn, thì lãi suất ở ngân hàng phải cao hơn lãi suất trái phiếu, cụ thể là phải cao hơn mức 11,2%.
Ông Hồ Hữu Hạnh cho rằng, tâm lý người dân đang kỳ vọng một mức lãi suất tiết kiệm cao hơn, do lo ngại lạm phát trong năm nay. Một khi giảm được chỉ số tăng giá tiêu dùng thì lãi suất tiền gửi sẽ giảm, kéo lãi suất cho vay giảm theo.
Theo TS Lê Thẩm Dương, NHNN đang hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở nhưng các ngân hàng nhỏ không thể hưởng lợi nhiều trên thị trường này vì không nắm nhiều giấy tờ có giá. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại lại không được vay tại thị trường liên ngân hàng quá 20% tổng huy động ngoài thị trường dân cư. Muốn vay được trên thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng nhỏ phải tăng hút vốn ở thị trường dân cư. Để hút vốn được, thì lãi suất ở các ngân hàng này phải cao hơn những ngân hàng quy mô lớn.
Quy định 20% này đang khiến người vay thì không vay được, người có tiền đành ôm vốn. Vì vậy, dù lãi suất liên ngân hàng giảm những tuần gần đây, nhưng lãi suất ngoài thị trường dân cư vẫn cứ tịnh tiến.
Theo ông Dương, NHNN nên điều chỉnh lại nút thắt trên thị trường liên ngân hàng này bằng việc nâng tỷ lệ cao hơn mức 20%, hoặc quy định trên mức vốn chủ sở hữu, nếu không, ngân hàng sẽ còn lách lãi suất với nhiều hình thức tinh vi hơn.
HỒNG SƯƠNG
Thứ Tư, 5 tháng 5, 2010
Bi kịch nợ công ở Hy Lạp, vì đâu nên nỗi?
KIỀU OANH
06/05/2010 06:16 (GMT+7)
http://vneconomy.vn/20100505011039118P0C99/bi-kich-no-cong-o-hy-lap-vi-dau-nen-noi.htm
Những ngày này, nguy cơ khủng hoảng nợ công của Athens có thể lan rộng sang các nước khác ở châu Âu đang khiến giới đầu tư toàn cầu như ngồi trên đống lửa.
Ở Hy Lạp, người dân ồ ạt xuống đường biểu tình phản đối những biện pháp mà chính phủ nước này đã cam kết với Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) để đổi lấy gói cứu trợ 110 tỷ Euro.
Tờ New York Times cho rằng, thách thức chồng chất mà khủng hoảng nợ đem tới cho Hy Lạp nói riêng và châu Âu nói chung bắt nguồn từ ngày Athens cố công để có được địa vị thành viên của EU.
Bi kịch ngày nay của Hy Lạp, ngoài việc bắt nguồn từ thói quen tiêu “hoang” của chính phủ nước này, còn có một phần là do tham vọng nhất thể hóa bằng mọi giá của các nhà lãnh đạo châu Âu - những người bị cho là đặt vấn đề chính trị lên trên thực lực kinh tế.
Năm 1981, Hy Lạp đã vội vàng xin gia nhập Cộng đồng châu Âu (hiện nay là EU), sớm hơn các quốc gia giàu có khác như Áo, Phần Lan và Thụy Điển tới 14 năm, và sớm hơn Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha 5 năm. Ở thời điểm đó, Tổng thống Pháp Francois Mitterand đã phản đối sự mở rộng của Cộng đồng châu Âu về phía Nam, vì lo ngại những quốc gia như Hy Lạp chưa đủ điều kiện gia nhập.
Tuy nhiên, những người ủng hộ chủ trương mở rộng khối đã lập luận rằng, kết nối các quốc gia bị xem là có nền dân chủ mong manh như Hy Lạp, Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha vào Cộng đồng châu Âu sẽ là cách tốt nhất để cải thiện nền dân chủ ở các nước này.
Các nhà lãnh đạo châu Âu cũng cho rằng, việc đưa Hy Lạp, một quốc gia còn nghèo khó với khoảng cách địa lý xa xôi vào chung một “mái nhà” với các nước Tây Âu giàu có là một “sứ mệnh lịch sử” - theo lời kể của cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp Yannos Papantoniou trên New York Times.
Trong thập kỷ đầu tiên là thành viên của EU, Hy Lạp đã được hưởng những khoản tài trợ hào phóng và nhờ đó vượt qua được nhiều khó khăn kinh tế - chính trị. Tới giai đoạn 1996 - 1997, khi châu Âu chuẩn bị cho ra đời một đồng tiền chung, Hy Lạp đã nhận được nhiều lời mời chào hấp dẫn, trong đó có cả những lời ca ngợi tốc độ tăng trưởng 3% khi đó của quốc gia này là phù hợp với việc sử dụng chung một đồng tiền với các quốc gia khác trong khu vực.
Đối với Athens khi đó, việc gia nhập khu vực sử dụng đồng Euro (Eurozone) vừa là vấn đề danh dự, vừa là sự cần thiết, vì nếu Hy Lạp sử dụng đồng tiền chung, giới đầu cơ tiền tệ sẽ không thể tấn công và nền kinh tế của nước này sẽ có được sự bình ổn. Bên cạnh đó, việc tham gia “câu lạc bộ nhà giàu” Eurozone cũng đồng nghĩa với việc Hy Lạp có thể tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng lãi suất thấp.
“Ngay khi xin được gia nhập khối Eurozone, chúng tôi bắt đầu cải tổ hình ảnh của Hy Lạp từ một nước thế giới thứ ba thành một quốc gia có vẻ giống như Thụy Sỹ”, cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp Papantoniou hồi tưởng.
Nhưng Hy Lạp đã phải vượt vô số rào cản mới có được một ghế trong Eurozone. Ở Đức, trước những ám ảnh về siêu lạm phát trong thời chiến tranh, chính phủ nước này đòi hỏi phải đặt ra những tiêu chuẩn thật khắt khe đối với những nước muốn được dùng chung một đồng tiền với họ. Những yêu cầu này bao gồm, thâm hụt ngân sách dưới 3% GDP, nợ công không quá 60% GDP, và lạm phát phải dưới mức 3%.
Vào tháng 12/1996, các quy định cho việc tham gia đồng Euro càng thêm ngặt nghèo khi một văn kiện mang tên Hiệp ước Bình ổn được thông qua. Hiệp ước này ngầm quy định, thành viên nào của Eurozone vi phạm các tiêu chuẩn về lạm chi, nợ công, lạm phát… sẽ phải chịu mức phạt nặng nề. Điều này như một chướng ngại vật quá sức đối với các nước Nam Âu, nơi vẫn bị xem là áp dụng các chính sách tiền tệ và tài khóa lỏng lẻo hơn.
Nước Đức muốn những hình phạt này được áp dụng tự động, nhưng một số nước khác mà đi đầu là Pháp muốn các nhà lãnh đạo của EU ra quyết định. Tuy vậy, từ trước tới nay, chưa một quốc gia nào trong khối Eurozone, kể cả Hy Lạp, bị phạt, dù những quy định của khối vẫn thường xuyên bị hầu hết các nước thành viên vi phạm.
Theo New York Times, về cơ bản, sự ra đời của đồng Euro mang nhiều màu sắc chính trị - điều này đồng nghĩa với việc các quy định có thể được “uốn cong” khi quyết định nước nào được gia nhập.
Ngay ở thời điểm năm 2000, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã bày tỏ sự quan ngại về tình hinh nợ của Hy Lạp và nhấn mạnh rằng, mức nợ này đã vượt xa trần quy định của Eurozone. Tuy nhiên, Hy Lạp vẫn cố gây áp lực và đã được chấp nhận vào khối Eurozone vào tháng 1/2001, sớm hơn một năm so với mục tiêu của Athens.
Khi đó, trên giấy tờ, Hy Lạp cho thấy họ đã cắt giảm được thâm hụt ngân sách. Và dù chưa giảm được nợ tới mức chuẩn, Athens đã nhấn mạnh vào tiền lệ là một số quốc gia khác như Italy và Bỉ vẫn được gia nhập Eurozone khi chưa đáp ứng được đỏi hỏi về mức nợ chính phủ. Đòi hỏi chính trị về việc giữ yên đồng Euro đã dìm sâu mọi lời chỉ trích về những hành vi “phá trần” này.
“Ở thời điểm đó, đã có những bằng chứng rõ ràng cho thấy, Hy Lạp đưa ra những số liệu không trung thực, đặc biệt là về thâm hụt ngân sách, nhằm đưa ra hình ảnh về tình hình tài chính công của họ ‘đẹp’ hơn thực tế. Nhưng các nhà lãnh đạo châu Âu đã không phản đối. Vì lý do chính trị, họ phải cho Hy Lạp tham gia đồng Euro”, Giáo sư kinh tế học Jürgen von Hagen thuộc Đại học Bonn, Đức, cho biết.
Sau đó, chính những nước “anh cả” trong Eurozone đã vi phạm các quy định về tài khóa. Vào các năm 2002, 2003, và 2004, ngay cả Đức và Pháp đã không tuân thủ được các điều khoản về thâm hụt ngân sách, tạo ra một tiền lệ nguy hiểm.
Tới năm 2004, việc Hy Lạp công bố số liệu kinh tế giả mạo đã rõ như ban ngày. EU đã mở cuộc điều tra đầu tiên nhằm vào tình trạng bội chi của Athens. Mặc dù Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) thu thập đủ bằng chứng về sự gian dối số liệu của Hy Lạp, nhưng các quan chức của châu Âu vẫn tuyên bố rằng, việc trục xuất Hy Lạp khỏi Eurozone không phải là lựa chọn của họ.
Tới giờ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp Papantoniou tiếp tục khẳng định, không có chuyện Hy Lạp đánh bóng các con số thống kê, mà sự “du di” của các số liệu chẳng qua là do thay đổi các quy tắc kế toán dưới thời chính phủ trung hữu của cựu Thủ tướng Kotas Karamanlis, người lên nắm quyền ở Hy Lạp vào tháng 3/2004.
Ông Tommaso Padoa-Schioppa, nguyên là thành viên ban lãnh đạo của ECB, nhớ lại, những dấu hỏi về mức độ chính xác của các dữ liệu tài chính của Athens thời đó đã khiến nhiều quốc gia trong EU phản đối những nỗ lực nhằm tăng cường quyền giám sát cho Eurostat.
Nhưng dù Hy Lạp có tô vẽ thêm cho các con số ra sao, thì nền kinh tế của nước này vẫn nhanh chóng diễn biến theo chiều hướng từ xấu thành xấu hơn. Cựu Thủ tướng Karamanlis đã chi tiêu không tiếc tay cho Thế vận hội mùa hè Athens 2004. Chi phí an ninh cho sự kiện này cao ngất ngưởng, do những lo ngại về nguy cơ khủng bố ám ảnh suốt từ sự kiện 11/9 ở Mỹ.
Vào Eurozone, thay vì cắt giảm chi tiêu, các chính phủ ở Hy Lạp nối tiếp nhau “vung tay quá trán” và không chịu đưa ra những con số minh bạch cho tới khi mọi chuyện vỡ lở như ngày hôm nay. “Giờ Hy Lạp phải trả giá cho việc chi tiêu quá tay”, cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp Papantoniou buồn bã nói.
Cũng trên tờ New York Times, giáo sư kinh tế học đoạt giải Nobel, ông Paul Krugman, mới đây đã nhận định rằng, đồng Euro chính là một trở ngại đối với sự tăng trưởng của kinh tế Hy Lạp, vì việc sử dụng đồng tiền chung không cho phép Athens phá giá đồng tiền để nâng sức cạnh tranh cho nền kinh tế.
06/05/2010 06:16 (GMT+7)
http://vneconomy.vn/20100505011039118P0C99/bi-kich-no-cong-o-hy-lap-vi-dau-nen-noi.htm
Những ngày này, nguy cơ khủng hoảng nợ công của Athens có thể lan rộng sang các nước khác ở châu Âu đang khiến giới đầu tư toàn cầu như ngồi trên đống lửa.
Ở Hy Lạp, người dân ồ ạt xuống đường biểu tình phản đối những biện pháp mà chính phủ nước này đã cam kết với Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) để đổi lấy gói cứu trợ 110 tỷ Euro.
Tờ New York Times cho rằng, thách thức chồng chất mà khủng hoảng nợ đem tới cho Hy Lạp nói riêng và châu Âu nói chung bắt nguồn từ ngày Athens cố công để có được địa vị thành viên của EU.
Bi kịch ngày nay của Hy Lạp, ngoài việc bắt nguồn từ thói quen tiêu “hoang” của chính phủ nước này, còn có một phần là do tham vọng nhất thể hóa bằng mọi giá của các nhà lãnh đạo châu Âu - những người bị cho là đặt vấn đề chính trị lên trên thực lực kinh tế.
Năm 1981, Hy Lạp đã vội vàng xin gia nhập Cộng đồng châu Âu (hiện nay là EU), sớm hơn các quốc gia giàu có khác như Áo, Phần Lan và Thụy Điển tới 14 năm, và sớm hơn Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha 5 năm. Ở thời điểm đó, Tổng thống Pháp Francois Mitterand đã phản đối sự mở rộng của Cộng đồng châu Âu về phía Nam, vì lo ngại những quốc gia như Hy Lạp chưa đủ điều kiện gia nhập.
Tuy nhiên, những người ủng hộ chủ trương mở rộng khối đã lập luận rằng, kết nối các quốc gia bị xem là có nền dân chủ mong manh như Hy Lạp, Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha vào Cộng đồng châu Âu sẽ là cách tốt nhất để cải thiện nền dân chủ ở các nước này.
Các nhà lãnh đạo châu Âu cũng cho rằng, việc đưa Hy Lạp, một quốc gia còn nghèo khó với khoảng cách địa lý xa xôi vào chung một “mái nhà” với các nước Tây Âu giàu có là một “sứ mệnh lịch sử” - theo lời kể của cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp Yannos Papantoniou trên New York Times.
Trong thập kỷ đầu tiên là thành viên của EU, Hy Lạp đã được hưởng những khoản tài trợ hào phóng và nhờ đó vượt qua được nhiều khó khăn kinh tế - chính trị. Tới giai đoạn 1996 - 1997, khi châu Âu chuẩn bị cho ra đời một đồng tiền chung, Hy Lạp đã nhận được nhiều lời mời chào hấp dẫn, trong đó có cả những lời ca ngợi tốc độ tăng trưởng 3% khi đó của quốc gia này là phù hợp với việc sử dụng chung một đồng tiền với các quốc gia khác trong khu vực.
Đối với Athens khi đó, việc gia nhập khu vực sử dụng đồng Euro (Eurozone) vừa là vấn đề danh dự, vừa là sự cần thiết, vì nếu Hy Lạp sử dụng đồng tiền chung, giới đầu cơ tiền tệ sẽ không thể tấn công và nền kinh tế của nước này sẽ có được sự bình ổn. Bên cạnh đó, việc tham gia “câu lạc bộ nhà giàu” Eurozone cũng đồng nghĩa với việc Hy Lạp có thể tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng lãi suất thấp.
“Ngay khi xin được gia nhập khối Eurozone, chúng tôi bắt đầu cải tổ hình ảnh của Hy Lạp từ một nước thế giới thứ ba thành một quốc gia có vẻ giống như Thụy Sỹ”, cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp Papantoniou hồi tưởng.
Nhưng Hy Lạp đã phải vượt vô số rào cản mới có được một ghế trong Eurozone. Ở Đức, trước những ám ảnh về siêu lạm phát trong thời chiến tranh, chính phủ nước này đòi hỏi phải đặt ra những tiêu chuẩn thật khắt khe đối với những nước muốn được dùng chung một đồng tiền với họ. Những yêu cầu này bao gồm, thâm hụt ngân sách dưới 3% GDP, nợ công không quá 60% GDP, và lạm phát phải dưới mức 3%.
Vào tháng 12/1996, các quy định cho việc tham gia đồng Euro càng thêm ngặt nghèo khi một văn kiện mang tên Hiệp ước Bình ổn được thông qua. Hiệp ước này ngầm quy định, thành viên nào của Eurozone vi phạm các tiêu chuẩn về lạm chi, nợ công, lạm phát… sẽ phải chịu mức phạt nặng nề. Điều này như một chướng ngại vật quá sức đối với các nước Nam Âu, nơi vẫn bị xem là áp dụng các chính sách tiền tệ và tài khóa lỏng lẻo hơn.
Nước Đức muốn những hình phạt này được áp dụng tự động, nhưng một số nước khác mà đi đầu là Pháp muốn các nhà lãnh đạo của EU ra quyết định. Tuy vậy, từ trước tới nay, chưa một quốc gia nào trong khối Eurozone, kể cả Hy Lạp, bị phạt, dù những quy định của khối vẫn thường xuyên bị hầu hết các nước thành viên vi phạm.
Theo New York Times, về cơ bản, sự ra đời của đồng Euro mang nhiều màu sắc chính trị - điều này đồng nghĩa với việc các quy định có thể được “uốn cong” khi quyết định nước nào được gia nhập.
Ngay ở thời điểm năm 2000, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã bày tỏ sự quan ngại về tình hinh nợ của Hy Lạp và nhấn mạnh rằng, mức nợ này đã vượt xa trần quy định của Eurozone. Tuy nhiên, Hy Lạp vẫn cố gây áp lực và đã được chấp nhận vào khối Eurozone vào tháng 1/2001, sớm hơn một năm so với mục tiêu của Athens.
Khi đó, trên giấy tờ, Hy Lạp cho thấy họ đã cắt giảm được thâm hụt ngân sách. Và dù chưa giảm được nợ tới mức chuẩn, Athens đã nhấn mạnh vào tiền lệ là một số quốc gia khác như Italy và Bỉ vẫn được gia nhập Eurozone khi chưa đáp ứng được đỏi hỏi về mức nợ chính phủ. Đòi hỏi chính trị về việc giữ yên đồng Euro đã dìm sâu mọi lời chỉ trích về những hành vi “phá trần” này.
“Ở thời điểm đó, đã có những bằng chứng rõ ràng cho thấy, Hy Lạp đưa ra những số liệu không trung thực, đặc biệt là về thâm hụt ngân sách, nhằm đưa ra hình ảnh về tình hình tài chính công của họ ‘đẹp’ hơn thực tế. Nhưng các nhà lãnh đạo châu Âu đã không phản đối. Vì lý do chính trị, họ phải cho Hy Lạp tham gia đồng Euro”, Giáo sư kinh tế học Jürgen von Hagen thuộc Đại học Bonn, Đức, cho biết.
Sau đó, chính những nước “anh cả” trong Eurozone đã vi phạm các quy định về tài khóa. Vào các năm 2002, 2003, và 2004, ngay cả Đức và Pháp đã không tuân thủ được các điều khoản về thâm hụt ngân sách, tạo ra một tiền lệ nguy hiểm.
Tới năm 2004, việc Hy Lạp công bố số liệu kinh tế giả mạo đã rõ như ban ngày. EU đã mở cuộc điều tra đầu tiên nhằm vào tình trạng bội chi của Athens. Mặc dù Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat) thu thập đủ bằng chứng về sự gian dối số liệu của Hy Lạp, nhưng các quan chức của châu Âu vẫn tuyên bố rằng, việc trục xuất Hy Lạp khỏi Eurozone không phải là lựa chọn của họ.
Tới giờ, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp Papantoniou tiếp tục khẳng định, không có chuyện Hy Lạp đánh bóng các con số thống kê, mà sự “du di” của các số liệu chẳng qua là do thay đổi các quy tắc kế toán dưới thời chính phủ trung hữu của cựu Thủ tướng Kotas Karamanlis, người lên nắm quyền ở Hy Lạp vào tháng 3/2004.
Ông Tommaso Padoa-Schioppa, nguyên là thành viên ban lãnh đạo của ECB, nhớ lại, những dấu hỏi về mức độ chính xác của các dữ liệu tài chính của Athens thời đó đã khiến nhiều quốc gia trong EU phản đối những nỗ lực nhằm tăng cường quyền giám sát cho Eurostat.
Nhưng dù Hy Lạp có tô vẽ thêm cho các con số ra sao, thì nền kinh tế của nước này vẫn nhanh chóng diễn biến theo chiều hướng từ xấu thành xấu hơn. Cựu Thủ tướng Karamanlis đã chi tiêu không tiếc tay cho Thế vận hội mùa hè Athens 2004. Chi phí an ninh cho sự kiện này cao ngất ngưởng, do những lo ngại về nguy cơ khủng bố ám ảnh suốt từ sự kiện 11/9 ở Mỹ.
Vào Eurozone, thay vì cắt giảm chi tiêu, các chính phủ ở Hy Lạp nối tiếp nhau “vung tay quá trán” và không chịu đưa ra những con số minh bạch cho tới khi mọi chuyện vỡ lở như ngày hôm nay. “Giờ Hy Lạp phải trả giá cho việc chi tiêu quá tay”, cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp Papantoniou buồn bã nói.
Cũng trên tờ New York Times, giáo sư kinh tế học đoạt giải Nobel, ông Paul Krugman, mới đây đã nhận định rằng, đồng Euro chính là một trở ngại đối với sự tăng trưởng của kinh tế Hy Lạp, vì việc sử dụng đồng tiền chung không cho phép Athens phá giá đồng tiền để nâng sức cạnh tranh cho nền kinh tế.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)