http://www.sgtt.com.vn/Goc-nhin/129790/Nha-nuoc-khong-nen-vua-dan-vua-vac.htm
Sài Gòn Tiếp Thị phỏng vấn ông Thang Văn Phúc, nguyên thứ trưởng bộ Nội vụ.
Gần đây một số học giả dùng khái niệm “nhà nước lớn, xã hội nhỏ” để chỉ thực trạng Việt Nam hiện tại. Vì sao mà vai trò của Nhà nước vẫn lớn vậy dù chúng ta đã cải cách 25 năm rồi?
Hiện nay Nhà nước vẫn còn ôm một khối lượng công việc quá lớn mà chưa thoát ra được. Chúng ta đã chuyển sang kinh tế thị trường nhưng có nhiều lúng túng. Nhà nước vẫn sợ là đưa nhiều thứ ra ngoài cho tư nhân làm thì không yên tâm, không lo được cho dân, rồi lại tạo ra bất bình đẳng tiếp. Mới thị trường hoá một số dịch vụ công thôi mà đã sợ người dân đã không chịu được. Ví dụ, như trong ngành giáo dục, cho tư nhân đầu tư thì họ phải có lãi chứ.
Hơn nữa, các nhà làm chính sách của ta có phải của nền kinh tế thị trường đâu. Họ toàn xuất phát từ cơ chế cũ sang và mới chuyển nhờ thực tiễn gần đây.
Những lĩnh vực gì mà Nhà nước có thể chuyển cho khu vực tư nhân làm?
Nhiều lắm. Tất cả các khu vực dịch vụ công là Nhà nước có thể chuyển cho khu vực tư nhân, xã hội làm. Nhà nước chỉ làm chính sách, pháp luật, và giám sát xã hội thực hiện. Chứ Chính phủ không nên làm người vừa đẵn vừa vác như thời kinh tế tập trung, lo từ A đến Z. Bây giờ Chính phủ không nên làm thế. Nhà nước chỉ cần giữ lại những ngành, lĩnh vực cần thiết trọng yếu, hay tư nhân không muốn đầu tư.
Chúng ta phát hiện hết những vấn đề này nhưng làm sao giải quyết là đại sự. Mà lời giải không thể là bình thường được, phải có tính cách mạng. Mà ngay cả các nước tư bản cũng khó, họ có mấy trăm năm để xử lý những vấn đề đó.
Trong bình diện hiện nay, ông thấy lĩnh vực nào Nhà nước nắm giữ đang gây bức xúc xã hội nhất và cần thu hẹp vai trò lại?
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN)! Khu vực này phải thu hẹp lại. Không thể để 1.500 DNNN mà lại giữ tới 70% tài sản. Nhà nước chỉ giữ mức độ thôi để đáp ứng những vai trò mà tôi vừa nói. Phải bán, khoán, cho thuê và cổ phần hoá khối doanh nghiệp này. Những chủ sở hữu tư nhân mới vẫn sống trên đất nước này, họ đóng thuế cho Nhà nước.
Gần đây Nhà nước đã cho tư nhân làm nhiều thứ. Ví dụ trong giao thông vận tải, tư nhân đã được cho phép khai thác sử dụng, hay trong viễn thông không chỉ có mình VNPT. Nhưng thế vẫn chưa đủ. Ví dụ, ngành điện phải đa dạng hoá chứ sao lại cứ để mãi cái anh EVN độc quyền. Nếu không cạnh tranh thì không thể phát triển được.
Hơn nữa, ngân sách vẫn dùng để bao cấp cho các DNNN. Các ngân hàng của Nhà nước vẫn phải theo chỉ dẫn của các bộ, ngành, hay Chính phủ cho các DNNN vay. Ví dụ mấy ngân hàng lớn buộc phải cho Vinashin vay. Nếu họ có nợ hay gì đó thì Nhà nước phải trả nợ. Nợ là chuyện của Nhà nước chứ đâu phải của các ông DNNN đâu. Tức là Nhà nước vẫn chịu tránh nhiệm. Cơ chế đó chưa thoát. Ta phải làm sao giải phóng được việc này.
Theo ông, những vấn đề chính của hệ thống công vụ là gì?
Trong ba năm qua có 16 ngàn viên chức bỏ việc. Con số này thấp hơn nhiều so với số người mới, bình quân tăng gần 100 ngàn người tương ứng với 5%. Nhưng đáng lo là phần lớn trong những người bỏ việc là có trình độ cao ở khu vực công, làm ở ngân hàng, tài chính, quản trị doanh nghiệp, chứ không phải người lao động thường đâu. Ta tinh giảm bộ máy nhưng số người lại tăng lên.
Tôi nghĩ công chức nên có sự dấn thân, quyết liệt. Ngày xưa trong chiến tranh ta dám đi dù chết, nay vì sự hưng thịnh của đất nước thì cần dấn thân. Có nhiều bất cập, mâu thuẫn thì công chức cần cùng nhau giải quyết, chứ không thể chờ vào ai. Càng không thể nhờ vào nước ngoài. Tất cả cái thiên hạ cho đều có giá hết, không trả cái này thì phải trả cái kia.
Tuy nhiên, những người giỏi muốn cống hiến phải được trọng dụng, chứ không phải chủ nghĩa bình quân như thế này. Tôi giỏi, làm được việc mà cứ bị mấy ông đồng nghiệp chả có tí sáng kiến nào phê phán suốt thì làm sao làm được.
Có cần cam kết chính trị cao để giải quyết những trở lực này?
Ngày nay đã có nhận thức rất rõ là phải đảm bảo cho công chức đủ sống và xác định vấn đề này là trọng điểm xử lý. Chúng ta có chủ trương rồi, nghị quyết Trung ương 7 khoá VIII có rồi (biểu thị quyết tâm chính trị lớn về cải cách hành chính, đặt cải cách hành chính trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị – PV). Nhưng từ đó đến nay đã mười năm mà chúng ta vẫn không làm được. Rất lúng túng.
Mà vai trò của Nhà nước vẫn còn rất lớn. Ví dụ, đầu tư công của Nhà nước vẫn còn rất lớn mà Nhà nước vẫn ôm. Hiện nay đầu tư công ở ta hơn 40% GDP là cao quá, các nước khác chỉ có 20 – 25% GDP thôi. Phải làm sao cơ cấu lại mức chi đó và rộng hơn là phải cải cách cơ cấu chi tiêu công.
Nhưng Nhà nước có từ bỏ được không? Bảo cắt sự nghiệp công để xã hội hoá cũng làm nửa vời. Ví dụ, trước chuyển trường bán công thành tư thục, thì nay lại trở về trường công. Tức là quyết tâm chính trị có, chủ trương có nhưng không nhất quán, không kiên quyết thực hiện. Đấy là quyết tâm không cao của cả hệ thống.
Tư Giang (thực hiện)
Thứ Năm, 23 tháng 9, 2010
Pháp điển hóa, tại sao không?
11:38 (GMT+7) - Thứ Tư, 22/9/2010
http://vneconomy.vn/2010092211370388P0C5/phap-dien-hoa-tai-sao-khong.htm
Làm thế nào để biết quy định nào còn hiệu lực trong “mớ bòng bong” của hệ thống pháp luật vô cùng phức tạp, rối rắm hiện nay?
Làm thế nào để biết quy định nào còn hiệu lực trong “mớ bòng bong” của hệ thống pháp luật vô cùng phức tạp, rối rắm hiện nay?
Nhiều ý kiến cho rằng hình thành bộ pháp điển cho hệ thống pháp luật Việt Nam chính là một biện pháp giúp giải quyết tình trạng nói trên.
Khốn khổ với “rừng” luật
Ông Phùng Văn Hùng, Giám đốc Trung tâm Thư viện và Nghiên cứu khoa học của Văn phòng Quốc hội, ví hệ thống pháp luật hiện nay giống như một khu rừng mà trong đó trung bình mỗi năm lại “mọc” thêm 4.000 văn bản quy phạm pháp luật. Với khối lượng đồ sộ như vậy, lại liên tục thay đổi do đang trong quá trình hoàn thiện, hệ thống pháp luật gây rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm và xác định hiệu lực của các quy định, văn bản.
Có những văn bản mà theo luật sư Trần Mạnh Hùng thuộc chi nhánh Công ty Luật Baker & Mckenzie tại Việt Nam, ngay cả luật sư không phải ai cũng biết. Đó phần nhiều là những công văn mang tính hướng dẫn của một bộ, ngành nào đó.
Ví dụ như công văn của Tổng cục Thuế giải thích Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04-Tài sản cố định vô hình ban hành kèm theo Quyết định 149/2001/QĐ-BTC của Bộ Tài chính. Theo văn bản này, thương hiệu không được ghi nhận là tài sản và vì vậy không được góp vốn bằng thương hiệu. Trong khi đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật lại thừa nhận giá trị thương hiệu, tuy nhiên theo luật sư Hùng, “nếu không biết công văn nói trên thì rất có thể luật sư sẽ tư vấn sai”.
Tìm văn bản đã khó, làm thế nào để phân biệt giá trị pháp lý của từng điều khoản, từng văn bản đó lại là chuyện mà theo luật sư Hùng có thể gây nên một “cơn ác mộng” thực sự cho người sử dụng. Một trong những nguyên nhân dễ thấy chính là do tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật.
Một ví dụ được ông Trần Mạnh Hùng dẫn chứng là quy định về việc thành lập doanh nghiệp có vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Điều 9, Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định: nếu sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài chiếm 49% vốn điều lệ thì thủ tục thực hiện theo Luật Doanh nghiệp. Trong khi đó, điều 50 Luật Đầu tư lại quy định: nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam phải có dự án đầu tư và đăng ký để được cấp giấy chứng nhận đầu tư.
Công văn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì hướng dẫn khác: nhà đầu tư nước ngoài chiếm dưới 49% vốn điều lệ vừa vẫn phải có dự án đầu tư và đăng ký để được cấp giấy chứng nhận đầu tư và vừa phải tuân theo các thủ tục quy định tại Nghị định 139/2007/NĐ-CP! “Đó là chưa kể 64 tỉnh thành phố trên cả nước với mỗi nơi thực hiện một kiểu”, ông Hùng than thở.
Luật sư Hùng dẫn thêm một ví dụ liên quan đến Thông tư 13/TT-BKHĐT ngày 8/10/1997 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Văn bản này quy định về phí quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với nguồn dẫn chiếu là Luật Đầu tư nước ngoài và Nghị định 12/CP hướng dẫn Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có bất kỳ một văn bản nào tuyên bố chấm dứt hiệu lực của Thông tư 13/TT-BKHĐT và văn bản này vẫn được áp dụng mặc dù Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Nghị định 12/CP đã bị bãi bỏ. Sở dĩ có chuyện trái khoáy như vậy là do chưa thống nhất hoặc còn nhiều bất hợp lý trong cách quy định về hiệu lực của văn bản pháp luật.
Khoản 4, điều 78, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 quy định: “Văn bản hướng dẫn thi hành của văn bản hết hiệu lực cũng đồng thời hết hiệu lực với văn bản đó, trừ trường hợp được giữ lại toàn bộ hay một phần vì còn phù hợp với các quy định của văn bản mới”. Điều đó có nghĩa bản thân văn bản thì hết hiệu lực nhưng toàn bộ hay một phần nội dung văn bản đó có thể vẫn còn hiệu lực!
Hoặc ngược lại, có văn bản quy định: “Các quy định trước đây trái với văn bản này đều bị bãi bỏ”. Điều này có thể suy ra rằng chỉ có quy định cũ trái với văn bản mới bị bãi bỏ, còn bản thân văn bản cũ nếu có những nội dung không trái hoặc khác với văn bản mới thì chưa chắc đã hết hiệu lực. Như vậy, giá trị pháp lý của văn bản cũ đến mức nào? Có được đưa ra để áp dụng không?... Quả là rối rắm và khó hiểu!
Thu về một mối?
Ông John Bentley, cố vấn trưởng pháp luật của dự án Star Việt Nam, cho rằng để giúp cho việc sử dụng văn bản pháp luật dễ dàng, thuận lợi thì giải pháp hữu hiệu nhất vẫn là pháp điển hóa hệ thống pháp luật. Tức là cập nhật, hệ thống hóa và gom tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực về một đầu mối, thay vì tản mạn, rối rắm như hiện nay.
Ông John Bentley cho biết tình trạng “rừng luật” hiện nay ở Việt Nam cũng chẳng khác gì ở Mỹ trong thời kỳ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933. Để khắc phục khủng hoảng, hoạt động của các cơ quan lập pháp và lập quy được đẩy mạnh đến mức các văn bản pháp luật gần như bùng nổ và không thể kiểm soát.
Đỉnh điểm của tình trạng này là vào năm 1934 một công dân đã bị tòa xử oan trong khi quy định của pháp luật về tội này đã hết hiệu lực (vụ “dầu nóng” nổi tiếng). Dưới sức ép của người dân, năm 1937 luật về pháp điển hóa đã được ban hành.
Theo đó, tất cả các quy định còn hiệu lực nằm rải rác ở các văn bản pháp luật được một ủy ban có trách nhiệm rà soát và hệ thống hóa lại trong Bộ Pháp điển và bộ pháp điển này được sử dụng, có giá trị pháp lý thay thế cho các văn bản pháp luật nói trên. Bộ Pháp điển thoạt đầu có 15 tập với 50 đề mục khác nhau và đến nay đã lên tới 234 tập. “Bộ Pháp điển cho phép tra cứu rất nhanh chóng, tiện lợi các quy định pháp luật còn hiệu lực để thi hành. Nó thông dụng tới mức người dân Mỹ sinh ra một tật... xấu là sống không thể thiếu pháp điển”, ông John Bentley kể.
Hầu hết các chuyên gia pháp lý đều ủng hộ ý tưởng về một bộ pháp điển cho hệ thống pháp luật của Việt Nam. Luật sư Trần Mạnh Hùng gọi đây là “một giấc mơ”. Còn ông Phạm Hồng Quất, Phó chánh thanh tra, Bộ Khoa học và Công nghệ thì cho rằng pháp điển hóa sẽ giúp tăng cường tính minh bạch của hệ thống pháp luật, làm cho chúng dễ tiếp cận hơn với nhiều đối tượng. Đặc biệt, quá trình thực hiện pháp điển hóa sẽ giúp phát hiện và loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Tuy nhiên, việc triển khai và áp dụng vào Việt Nam như thế nào cho phù hợp vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi. TS. Nguyễn Ngọc Điện, Phó hiệu trưởng Đại học Kinh tế - Luật thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM, băn khoăn: nếu bộ pháp điển được công nhận có giá trị pháp lý thay thế các văn bản pháp luật thì hóa ra trao quyền ban hành luật cho cơ quan pháp điển?
Ông Điện cho biết khác với Mỹ, ở châu Âu bộ pháp điển do các chuyên gia chọn lọc, tập hợp, chú giải, hay nói cách khác là do tư nhân làm chứ không phải việc của nhà nước. Tuy nhiên, mặc dù chỉ được xem là nguồn tài liệu tham khảo nhưng chúng vẫn có giá trị sử dụng rất cao nếu chất lượng về nội dung tốt. Ông Điện đề nghị nên cân nhắc giữa hai trường phái Mỹ và châu Âu để có một giải pháp phù hợp với điều kiện của nước ta.
Một ý kiến băn khoăn khác là với tình trạng pháp luật thay đổi liên tục như ở Việt Nam thì liệu có khả năng để xây dựng bộ pháp điển? Theo ông Phùng Văn Hùng, Giám đốc Trung tâm Thư viện và Nghiên cứu khoa học của Văn phòng Quốc hội, nơi từng triển khai một dự án thí điểm xây dựng bộ pháp điển do Ủy ban Châu Âu tài trợ, đây chỉ là khó khăn mang tính kỹ thuật và hoàn toàn có thể khắc phục được.
Ví dụ, bộ pháp điển có thể chia thành nhiều tập của từng năm và trong khi chờ tập mới ra đời cơ quan pháp điển có thể ban hành những tập phụ lục để cập nhật các văn bản mới. Ông Hùng cho rằng điều quan trọng lúc này là cần tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, từ đó tìm ra các phương án khả thi cho Việt Nam. Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ đề xuất một dự án luật về pháp điển hóa để Quốc hội đưa vào chương trình xây dựng pháp luật. Theo ông, một đạo luật như vậy là rất cần.
Nguyên Tấn (TBKTSG)
http://vneconomy.vn/2010092211370388P0C5/phap-dien-hoa-tai-sao-khong.htm
Làm thế nào để biết quy định nào còn hiệu lực trong “mớ bòng bong” của hệ thống pháp luật vô cùng phức tạp, rối rắm hiện nay?
Làm thế nào để biết quy định nào còn hiệu lực trong “mớ bòng bong” của hệ thống pháp luật vô cùng phức tạp, rối rắm hiện nay?
Nhiều ý kiến cho rằng hình thành bộ pháp điển cho hệ thống pháp luật Việt Nam chính là một biện pháp giúp giải quyết tình trạng nói trên.
Khốn khổ với “rừng” luật
Ông Phùng Văn Hùng, Giám đốc Trung tâm Thư viện và Nghiên cứu khoa học của Văn phòng Quốc hội, ví hệ thống pháp luật hiện nay giống như một khu rừng mà trong đó trung bình mỗi năm lại “mọc” thêm 4.000 văn bản quy phạm pháp luật. Với khối lượng đồ sộ như vậy, lại liên tục thay đổi do đang trong quá trình hoàn thiện, hệ thống pháp luật gây rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm và xác định hiệu lực của các quy định, văn bản.
Có những văn bản mà theo luật sư Trần Mạnh Hùng thuộc chi nhánh Công ty Luật Baker & Mckenzie tại Việt Nam, ngay cả luật sư không phải ai cũng biết. Đó phần nhiều là những công văn mang tính hướng dẫn của một bộ, ngành nào đó.
Ví dụ như công văn của Tổng cục Thuế giải thích Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04-Tài sản cố định vô hình ban hành kèm theo Quyết định 149/2001/QĐ-BTC của Bộ Tài chính. Theo văn bản này, thương hiệu không được ghi nhận là tài sản và vì vậy không được góp vốn bằng thương hiệu. Trong khi đó, nhiều văn bản quy phạm pháp luật lại thừa nhận giá trị thương hiệu, tuy nhiên theo luật sư Hùng, “nếu không biết công văn nói trên thì rất có thể luật sư sẽ tư vấn sai”.
Tìm văn bản đã khó, làm thế nào để phân biệt giá trị pháp lý của từng điều khoản, từng văn bản đó lại là chuyện mà theo luật sư Hùng có thể gây nên một “cơn ác mộng” thực sự cho người sử dụng. Một trong những nguyên nhân dễ thấy chính là do tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật.
Một ví dụ được ông Trần Mạnh Hùng dẫn chứng là quy định về việc thành lập doanh nghiệp có vốn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Điều 9, Nghị định 139/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định: nếu sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài chiếm 49% vốn điều lệ thì thủ tục thực hiện theo Luật Doanh nghiệp. Trong khi đó, điều 50 Luật Đầu tư lại quy định: nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam phải có dự án đầu tư và đăng ký để được cấp giấy chứng nhận đầu tư.
Công văn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì hướng dẫn khác: nhà đầu tư nước ngoài chiếm dưới 49% vốn điều lệ vừa vẫn phải có dự án đầu tư và đăng ký để được cấp giấy chứng nhận đầu tư và vừa phải tuân theo các thủ tục quy định tại Nghị định 139/2007/NĐ-CP! “Đó là chưa kể 64 tỉnh thành phố trên cả nước với mỗi nơi thực hiện một kiểu”, ông Hùng than thở.
Luật sư Hùng dẫn thêm một ví dụ liên quan đến Thông tư 13/TT-BKHĐT ngày 8/10/1997 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Văn bản này quy định về phí quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với nguồn dẫn chiếu là Luật Đầu tư nước ngoài và Nghị định 12/CP hướng dẫn Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có bất kỳ một văn bản nào tuyên bố chấm dứt hiệu lực của Thông tư 13/TT-BKHĐT và văn bản này vẫn được áp dụng mặc dù Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Nghị định 12/CP đã bị bãi bỏ. Sở dĩ có chuyện trái khoáy như vậy là do chưa thống nhất hoặc còn nhiều bất hợp lý trong cách quy định về hiệu lực của văn bản pháp luật.
Khoản 4, điều 78, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 quy định: “Văn bản hướng dẫn thi hành của văn bản hết hiệu lực cũng đồng thời hết hiệu lực với văn bản đó, trừ trường hợp được giữ lại toàn bộ hay một phần vì còn phù hợp với các quy định của văn bản mới”. Điều đó có nghĩa bản thân văn bản thì hết hiệu lực nhưng toàn bộ hay một phần nội dung văn bản đó có thể vẫn còn hiệu lực!
Hoặc ngược lại, có văn bản quy định: “Các quy định trước đây trái với văn bản này đều bị bãi bỏ”. Điều này có thể suy ra rằng chỉ có quy định cũ trái với văn bản mới bị bãi bỏ, còn bản thân văn bản cũ nếu có những nội dung không trái hoặc khác với văn bản mới thì chưa chắc đã hết hiệu lực. Như vậy, giá trị pháp lý của văn bản cũ đến mức nào? Có được đưa ra để áp dụng không?... Quả là rối rắm và khó hiểu!
Thu về một mối?
Ông John Bentley, cố vấn trưởng pháp luật của dự án Star Việt Nam, cho rằng để giúp cho việc sử dụng văn bản pháp luật dễ dàng, thuận lợi thì giải pháp hữu hiệu nhất vẫn là pháp điển hóa hệ thống pháp luật. Tức là cập nhật, hệ thống hóa và gom tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực về một đầu mối, thay vì tản mạn, rối rắm như hiện nay.
Ông John Bentley cho biết tình trạng “rừng luật” hiện nay ở Việt Nam cũng chẳng khác gì ở Mỹ trong thời kỳ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933. Để khắc phục khủng hoảng, hoạt động của các cơ quan lập pháp và lập quy được đẩy mạnh đến mức các văn bản pháp luật gần như bùng nổ và không thể kiểm soát.
Đỉnh điểm của tình trạng này là vào năm 1934 một công dân đã bị tòa xử oan trong khi quy định của pháp luật về tội này đã hết hiệu lực (vụ “dầu nóng” nổi tiếng). Dưới sức ép của người dân, năm 1937 luật về pháp điển hóa đã được ban hành.
Theo đó, tất cả các quy định còn hiệu lực nằm rải rác ở các văn bản pháp luật được một ủy ban có trách nhiệm rà soát và hệ thống hóa lại trong Bộ Pháp điển và bộ pháp điển này được sử dụng, có giá trị pháp lý thay thế cho các văn bản pháp luật nói trên. Bộ Pháp điển thoạt đầu có 15 tập với 50 đề mục khác nhau và đến nay đã lên tới 234 tập. “Bộ Pháp điển cho phép tra cứu rất nhanh chóng, tiện lợi các quy định pháp luật còn hiệu lực để thi hành. Nó thông dụng tới mức người dân Mỹ sinh ra một tật... xấu là sống không thể thiếu pháp điển”, ông John Bentley kể.
Hầu hết các chuyên gia pháp lý đều ủng hộ ý tưởng về một bộ pháp điển cho hệ thống pháp luật của Việt Nam. Luật sư Trần Mạnh Hùng gọi đây là “một giấc mơ”. Còn ông Phạm Hồng Quất, Phó chánh thanh tra, Bộ Khoa học và Công nghệ thì cho rằng pháp điển hóa sẽ giúp tăng cường tính minh bạch của hệ thống pháp luật, làm cho chúng dễ tiếp cận hơn với nhiều đối tượng. Đặc biệt, quá trình thực hiện pháp điển hóa sẽ giúp phát hiện và loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Tuy nhiên, việc triển khai và áp dụng vào Việt Nam như thế nào cho phù hợp vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi. TS. Nguyễn Ngọc Điện, Phó hiệu trưởng Đại học Kinh tế - Luật thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM, băn khoăn: nếu bộ pháp điển được công nhận có giá trị pháp lý thay thế các văn bản pháp luật thì hóa ra trao quyền ban hành luật cho cơ quan pháp điển?
Ông Điện cho biết khác với Mỹ, ở châu Âu bộ pháp điển do các chuyên gia chọn lọc, tập hợp, chú giải, hay nói cách khác là do tư nhân làm chứ không phải việc của nhà nước. Tuy nhiên, mặc dù chỉ được xem là nguồn tài liệu tham khảo nhưng chúng vẫn có giá trị sử dụng rất cao nếu chất lượng về nội dung tốt. Ông Điện đề nghị nên cân nhắc giữa hai trường phái Mỹ và châu Âu để có một giải pháp phù hợp với điều kiện của nước ta.
Một ý kiến băn khoăn khác là với tình trạng pháp luật thay đổi liên tục như ở Việt Nam thì liệu có khả năng để xây dựng bộ pháp điển? Theo ông Phùng Văn Hùng, Giám đốc Trung tâm Thư viện và Nghiên cứu khoa học của Văn phòng Quốc hội, nơi từng triển khai một dự án thí điểm xây dựng bộ pháp điển do Ủy ban Châu Âu tài trợ, đây chỉ là khó khăn mang tính kỹ thuật và hoàn toàn có thể khắc phục được.
Ví dụ, bộ pháp điển có thể chia thành nhiều tập của từng năm và trong khi chờ tập mới ra đời cơ quan pháp điển có thể ban hành những tập phụ lục để cập nhật các văn bản mới. Ông Hùng cho rằng điều quan trọng lúc này là cần tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, từ đó tìm ra các phương án khả thi cho Việt Nam. Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ đề xuất một dự án luật về pháp điển hóa để Quốc hội đưa vào chương trình xây dựng pháp luật. Theo ông, một đạo luật như vậy là rất cần.
Nguyên Tấn (TBKTSG)
Phát hành đại chúng... cưỡng ép
HOÀNG THẠCH LÂN
10:28 (GMT+7) - Thứ Tư, 22/9/2010
http://vneconomy.vn/20100922102156867P0C7/phat-hanh-dai-chung-cuong-ep.htm
Ở thị trường chứng khoán Việt Nam, người viết tạm gọi nhiều trường hợp phát hành đại chúng trên sàn là phát hành cưỡng ép. Vì sao?
Về lý thuyết, có ba cách phát hành tăng vốn: phát hành riêng lẻ, đấu giá ra bên ngoài và phát hành đại chúng.
Ba cách phát hành này có những đặc trưng riêng và phù hợp với từng hoàn cảnh của doanh nghiệp lẫn điều kiện cho phép của thị trường chứng khoán, nhưng trong 3 cách đó, phát hành đại chúng có vẻ dễ thực hiện nhất, đặc biệt nếu doanh nghiệp đã niêm yết trên sàn.
Công ty Cổ phần Quốc Cường Gia Lai (mã QCG-HOSE) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt (mã NVB-HNX) là 2 trường hợp nổi tiếng nhất xét từ góc độ phát hành ngay sau khi niêm yết. NVB lên sàn vài hôm là có ngày chốt quyền mua cổ phiếu mới, tỷ lệ 100:98,9 giá 10.000 đồng/cổ phiếu.
Ở thị trường chứng khoán Việt Nam, người viết tạm gọi nhiều trường hợp phát hành đại chúng trên sàn là phát hành cưỡng ép. Vì sao?
Cưỡng ép, tức là bắt người ta phải làm cái gì đó, không có lựa chọn. Trong trường hợp phát hành đại chúng, cưỡng ép có nghĩa là bắt nhà đầu tư phải mua cổ phiếu phát hành thêm. Cho dù tại những thời điểm nhất định, với mức giá cổ phiếu nhất định..., một nhà đầu tư có thể không mua, nhưng nhìn chung thì tỷ trọng số lượng không mua rất thấp.
Đứng từ góc độ tổ chức phát hành, từ cưỡng ép có lẽ mới là từ đáng dùng, tức là về tổng thể luôn luôn có người nắm giữ cổ phiếu, do đó luôn luôn có người phải đóng tiền mua cổ phiếu mới. Sự thành công của đợt phát hành loại này có xác suất khá cao và công ty niêm yết có thể kiểm soát được bằng cách điều chỉnh giá phát hành sao cho “nhà đầu tư không mua không được”.
Như trường hợp của QCG: quyền mua 1:1 giá 15.000 đồng/cổ phiếu, ngày giao dịch không hưởng quyền: 24/8/2010, giá đóng cửa ngày 23/8 là 36.000 đồng/cổ phiếu. Như vậy giá tham chiếu ngày 24/8 sẽ giảm còn = ((1 x 36) + (1 x 15)) / (1 + 1) = 25,5 nghìn đồng/cổ phiếu, so với giá ngày 23/8 thì “giảm” = 25,5 – 36 = -10,5 nghìn đồng/cổ phiếu, tương đương giảm 29,2%.
Sẽ không ai bị thiệt hại 29,2%, do đây chỉ là động tác điều chỉnh kỹ thuật, nhưng nếu một nhà đầu tư nào bỏ quyền mua (có tên trong danh sách nhưng đến hạn đóng tiền thì bỏ), thì ngay lập tức cái thiệt hại -29,2% này sẽ chuyển từ ảo thành thật. Ai dám bỏ quyền?
Đứng từ góc độ một người đang nắm giữ cổ phiếu QCG, anh ta có thể không mua cổ phiếu mới bằng cách bán số cổ phiếu cũ trước ngày giao dịch không hưởng quyền và qua ngày đó thì mua lại, hoặc nếu anh ta tính rằng mức thiệt hại do bỏ quyền không còn là giảm 29,2% mà chỉ là giảm 5% (nếu giá phát hành là 32.500 đồng/cổ phiếu thì mức thiệt hại như cách tính trên sẽ là giảm 4,86%) thì có thể anh ta cũng bỏ luôn, hy vọng rằng trên sàn cổ phiếu QCG sớm tăng giá bù cho mức lỗ đó.
Tuy nhiên như đã nói, đứng ở góc độ công ty phát hành thì luôn phải có người đóng tiền mua cổ phiếu mới. Giá phát hành càng chênh lệch thấp hơn nhiều thị giá tại ngày giao dịch không hưởng quyền thì mức “thiệt hại” do bỏ quyền sẽ càng lớn, tức là xác suất người ta bỏ quyền sẽ càng thấp. Cưỡng ép là ở chỗ đó.
Trường hợp QCG nói trên (số cổ phiếu đang lưu hành trước khi chốt quyền là hơn 60 triệu CP), cũng vẫn có ai đó “bỏ của chạy lấy người”, nhưng số tiền công ty thu được chắc vẫn rất cao, ít ra cũng đạt hơn 90% của số tiền = 60triệu cổ phiếu x 15.000 đồng/cổ phiếu = 900 tỷ đồng. Nói cách khác, QCG sẽ “lấy” bớt từ sàn giao dịch thứ cấp gần cỡ 810 - 900 tỷ đồng, một đợt phát hành quá thành công cho công ty đang cần vốn!
Và để đạt thành công này, yếu tố quyết định chính là sự chênh lệch giữa cái giá phát hành với thị giá sát ngày giao dịch không hưởng quyền, và yếu tố phụ là công ty phải... lên sàn (không lên sàn thì làm sao nhà đầu tư biết chênh lệch giá mà tính được thiệt hại?).
Cũng có rủi ro cho tổ chức phát hành là càng gần ngày giao dịch không hưởng quyền, thị giá cổ phiếu càng rớt về gần giá phát hành, khi đó nguy cơ bỏ quyền sẽ càng cao. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng vẫn có thể có những chiêu thức thức như “ém sẵn” thông tin tốt để công bố sát ngày đẩy giá lên, hoặc chấp nhận phát hành với giá thấp hơn cả thư giá và thậm chí về tới mệnh giá.
Cho nên dạo này cho dù thị trường suy giảm, giá cổ phiếu có bị “đạp xuống bùn đen” thì công ty niêm yết vẫn phát hành tăng vốn, với giá phát hành = 10.000 đồng/cổ phiếu cho chắc ăn. Nếu kết hợp phát hành quyền + thưởng thêm cổ phiếu (hay trả cổ tức bằng cổ phiếu) thì càng dễ thành công.
Nhà đầu tư đang đổ lỗi cho công ty niêm yết khi bảo rằng họ (công ty niêm yết) đã phát hành pha loãng quá nhiều. Thực tế khó mà trách họ được, do việc phát hành kiểu này "dễ ăn" quá. Từ trước đến giờ Luật Chứng khoán không bắt buộc cứ phải có dự án mới được phép phát hành, mà chỉ cần lấy lý do tái cấu trúc tài chính, tăng vốn lưu động, mua vài ba cái máy cày, máy xúc, mua đất, góp vốn cho công ty khác, hay đơn giản là tăng vốn điều lệ là cũng có thể được phát hành.
Phát hành như vậy đâm ra quá tiện lợi, lấy được tiền của thiên hạ thì cứ lấy, đâu cần thu đủ tiền, được đồng nào hay đồng nấy đối với một số công ty cũng là thành công rồi.
Trở lại với trường hợp các ngân hàng như NVB. Quy định tăng vốn điều lệ của nhà nước đang là một thách thức lớn cho các ngân hàng thương mại khi thời hạn chỉ còn vài tháng. Mà để tăng vốn được qua kênh riêng lẻ, tìm đối tác chiến lược đâu dễ, vẫn mất rất nhiều thời gian và thủ tục cho dù có bán với giá bằng mệnh giá, chưa tính đến yếu tố cạnh tranh. Đấu giá cũng vậy.
Do đó, sớm lên sàn và phát hành liền như NVB có lẽ lại đang là lối ra cho chính ngân hàng. Đây cũng có thể là một trường hợp cho các ngân hàng khác noi theo chăng?
10:28 (GMT+7) - Thứ Tư, 22/9/2010
http://vneconomy.vn/20100922102156867P0C7/phat-hanh-dai-chung-cuong-ep.htm
Ở thị trường chứng khoán Việt Nam, người viết tạm gọi nhiều trường hợp phát hành đại chúng trên sàn là phát hành cưỡng ép. Vì sao?
Về lý thuyết, có ba cách phát hành tăng vốn: phát hành riêng lẻ, đấu giá ra bên ngoài và phát hành đại chúng.
Ba cách phát hành này có những đặc trưng riêng và phù hợp với từng hoàn cảnh của doanh nghiệp lẫn điều kiện cho phép của thị trường chứng khoán, nhưng trong 3 cách đó, phát hành đại chúng có vẻ dễ thực hiện nhất, đặc biệt nếu doanh nghiệp đã niêm yết trên sàn.
Công ty Cổ phần Quốc Cường Gia Lai (mã QCG-HOSE) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt (mã NVB-HNX) là 2 trường hợp nổi tiếng nhất xét từ góc độ phát hành ngay sau khi niêm yết. NVB lên sàn vài hôm là có ngày chốt quyền mua cổ phiếu mới, tỷ lệ 100:98,9 giá 10.000 đồng/cổ phiếu.
Ở thị trường chứng khoán Việt Nam, người viết tạm gọi nhiều trường hợp phát hành đại chúng trên sàn là phát hành cưỡng ép. Vì sao?
Cưỡng ép, tức là bắt người ta phải làm cái gì đó, không có lựa chọn. Trong trường hợp phát hành đại chúng, cưỡng ép có nghĩa là bắt nhà đầu tư phải mua cổ phiếu phát hành thêm. Cho dù tại những thời điểm nhất định, với mức giá cổ phiếu nhất định..., một nhà đầu tư có thể không mua, nhưng nhìn chung thì tỷ trọng số lượng không mua rất thấp.
Đứng từ góc độ tổ chức phát hành, từ cưỡng ép có lẽ mới là từ đáng dùng, tức là về tổng thể luôn luôn có người nắm giữ cổ phiếu, do đó luôn luôn có người phải đóng tiền mua cổ phiếu mới. Sự thành công của đợt phát hành loại này có xác suất khá cao và công ty niêm yết có thể kiểm soát được bằng cách điều chỉnh giá phát hành sao cho “nhà đầu tư không mua không được”.
Như trường hợp của QCG: quyền mua 1:1 giá 15.000 đồng/cổ phiếu, ngày giao dịch không hưởng quyền: 24/8/2010, giá đóng cửa ngày 23/8 là 36.000 đồng/cổ phiếu. Như vậy giá tham chiếu ngày 24/8 sẽ giảm còn = ((1 x 36) + (1 x 15)) / (1 + 1) = 25,5 nghìn đồng/cổ phiếu, so với giá ngày 23/8 thì “giảm” = 25,5 – 36 = -10,5 nghìn đồng/cổ phiếu, tương đương giảm 29,2%.
Sẽ không ai bị thiệt hại 29,2%, do đây chỉ là động tác điều chỉnh kỹ thuật, nhưng nếu một nhà đầu tư nào bỏ quyền mua (có tên trong danh sách nhưng đến hạn đóng tiền thì bỏ), thì ngay lập tức cái thiệt hại -29,2% này sẽ chuyển từ ảo thành thật. Ai dám bỏ quyền?
Đứng từ góc độ một người đang nắm giữ cổ phiếu QCG, anh ta có thể không mua cổ phiếu mới bằng cách bán số cổ phiếu cũ trước ngày giao dịch không hưởng quyền và qua ngày đó thì mua lại, hoặc nếu anh ta tính rằng mức thiệt hại do bỏ quyền không còn là giảm 29,2% mà chỉ là giảm 5% (nếu giá phát hành là 32.500 đồng/cổ phiếu thì mức thiệt hại như cách tính trên sẽ là giảm 4,86%) thì có thể anh ta cũng bỏ luôn, hy vọng rằng trên sàn cổ phiếu QCG sớm tăng giá bù cho mức lỗ đó.
Tuy nhiên như đã nói, đứng ở góc độ công ty phát hành thì luôn phải có người đóng tiền mua cổ phiếu mới. Giá phát hành càng chênh lệch thấp hơn nhiều thị giá tại ngày giao dịch không hưởng quyền thì mức “thiệt hại” do bỏ quyền sẽ càng lớn, tức là xác suất người ta bỏ quyền sẽ càng thấp. Cưỡng ép là ở chỗ đó.
Trường hợp QCG nói trên (số cổ phiếu đang lưu hành trước khi chốt quyền là hơn 60 triệu CP), cũng vẫn có ai đó “bỏ của chạy lấy người”, nhưng số tiền công ty thu được chắc vẫn rất cao, ít ra cũng đạt hơn 90% của số tiền = 60triệu cổ phiếu x 15.000 đồng/cổ phiếu = 900 tỷ đồng. Nói cách khác, QCG sẽ “lấy” bớt từ sàn giao dịch thứ cấp gần cỡ 810 - 900 tỷ đồng, một đợt phát hành quá thành công cho công ty đang cần vốn!
Và để đạt thành công này, yếu tố quyết định chính là sự chênh lệch giữa cái giá phát hành với thị giá sát ngày giao dịch không hưởng quyền, và yếu tố phụ là công ty phải... lên sàn (không lên sàn thì làm sao nhà đầu tư biết chênh lệch giá mà tính được thiệt hại?).
Cũng có rủi ro cho tổ chức phát hành là càng gần ngày giao dịch không hưởng quyền, thị giá cổ phiếu càng rớt về gần giá phát hành, khi đó nguy cơ bỏ quyền sẽ càng cao. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng vẫn có thể có những chiêu thức thức như “ém sẵn” thông tin tốt để công bố sát ngày đẩy giá lên, hoặc chấp nhận phát hành với giá thấp hơn cả thư giá và thậm chí về tới mệnh giá.
Cho nên dạo này cho dù thị trường suy giảm, giá cổ phiếu có bị “đạp xuống bùn đen” thì công ty niêm yết vẫn phát hành tăng vốn, với giá phát hành = 10.000 đồng/cổ phiếu cho chắc ăn. Nếu kết hợp phát hành quyền + thưởng thêm cổ phiếu (hay trả cổ tức bằng cổ phiếu) thì càng dễ thành công.
Nhà đầu tư đang đổ lỗi cho công ty niêm yết khi bảo rằng họ (công ty niêm yết) đã phát hành pha loãng quá nhiều. Thực tế khó mà trách họ được, do việc phát hành kiểu này "dễ ăn" quá. Từ trước đến giờ Luật Chứng khoán không bắt buộc cứ phải có dự án mới được phép phát hành, mà chỉ cần lấy lý do tái cấu trúc tài chính, tăng vốn lưu động, mua vài ba cái máy cày, máy xúc, mua đất, góp vốn cho công ty khác, hay đơn giản là tăng vốn điều lệ là cũng có thể được phát hành.
Phát hành như vậy đâm ra quá tiện lợi, lấy được tiền của thiên hạ thì cứ lấy, đâu cần thu đủ tiền, được đồng nào hay đồng nấy đối với một số công ty cũng là thành công rồi.
Trở lại với trường hợp các ngân hàng như NVB. Quy định tăng vốn điều lệ của nhà nước đang là một thách thức lớn cho các ngân hàng thương mại khi thời hạn chỉ còn vài tháng. Mà để tăng vốn được qua kênh riêng lẻ, tìm đối tác chiến lược đâu dễ, vẫn mất rất nhiều thời gian và thủ tục cho dù có bán với giá bằng mệnh giá, chưa tính đến yếu tố cạnh tranh. Đấu giá cũng vậy.
Do đó, sớm lên sàn và phát hành liền như NVB có lẽ lại đang là lối ra cho chính ngân hàng. Đây cũng có thể là một trường hợp cho các ngân hàng khác noi theo chăng?
Thứ Ba, 21 tháng 9, 2010
So sánh ngoài dự án
TS. Võ Kim Cương
Thứ Tư, 15/9/2010, 17:10 (GMT+7)
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/40221/
(TBKTSG) - Dự án đề cập trong bài này là dự án đầu tư nói chung (theo Luật Đầu tư) và dự án đầu tư xây dựng công trình theo Luật Xây dựng. Khi đầu tư, chủ đầu tư phải lập dự án để xem xét, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư.
Cơ sở để quyết định đầu tư vào đâu
Đối với một doanh nghiệp, khi có sẵn một nguồn tài chính, việc cân nhắc đầu tiên là “cần đầu tư vào đâu?”. Để trả lời câu hỏi này, chủ doanh nghiệp buộc phải so sánh nhiều hướng khác nhau như đầu tư vào kinh doanh xây dựng bất động sản, hay vào kinh doanh hàng hóa, hay đơn giản là mua chứng khoán.
Đối với một thành phố hay một quốc gia, chính quyền vốn sinh ra là để huy động và sử dụng mọi nguồn lực phục vụ việc xây dựng và bảo vệ đất nước cũng phải cân nhắc việc “đầu tư vào đâu” như vậy. Dựa trên cơ sở nào để quyết định việc đầu tư vào đâu?
Các chủ doanh nghiệp cũng như Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ hay chính quyền các cấp) đều cần có đủ thông tin để chọn hướng đầu tư hay quyết định chủ trương đầu tư. Trong khi đó, nội dung của dự án đầu tư theo Luật Xây dựng chỉ là những thông tin về dự án.
Cụ thể, tại điều 37 Luật Xây dựng, nội dung chủ yếu của phần thuyết minh là những thông tin sau: “Mục tiêu, địa điểm, quy mô, công suất, công nghệ, các giải pháp kinh tế kỹ thuật, nguồn vốn và tổng mức đầu tư, chủ đầu tư và hình thức quản lý dự án, hình thức đầu tư, thời gian, hiệu quả, phòng chống cháy nổ, đánh giá tác động môi trường”. Có thể thấy các thông tin trong thuyết minh dự án là những thông tin sau khi đã có quyết định về chủ trương đầu tư.
Đối với các công trình xây dựng có quy mô lớn, theo Luật Xây dựng: “Trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phải lập báo cáo đầu tư để trình cấp có thẩm quyền cho phép đầu tư”. Nội dung báo cáo đầu tư bao gồm sự cần thiết đầu tư, dự kiến quy mô đầu tư, phân tích lựa chọn sơ bộ về công nghệ, xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và trả nợ, tính toán sơ bộ hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội...
Có thể thấy các nội dung này chủ yếu vẫn là những thông tin về bản thân dự án, ngoại trừ thông tin về “sự cần thiết phải đầu tư”. Những thông tin sơ bộ về dự án và nội dung thuyết minh về sự cần thiết phải đầu tư chỉ để trả lời câu hỏi: “Có nên đầu tư dự án này hay không?”, chứ chưa trả lời được câu hỏi: “Cần đầu tư vào đâu?”.
Để trả lời câu hỏi: “Cần đầu tư vào đâu?” phải so sánh hiệu quả của các dự án với nhau, đó là sự so sánh ngoài dự án.Hãy lấy dự án đường sắt cao tốc được Quốc hội thảo luận trong kỳ họp vừa qua làm ví dụ. Ta có thể thấy có 4 cấp so sánh lựa chọn phương án chính:
1. So sánh các phương án của đường sắt cao tốc như phương án tuyến, phương án phân kỳ đầu tư, phương án huy động vốn...
2. So sánh các phương án đầu tư đường sắt như xây đường cao tốc, cải tạo từng bước hệ thống cũ, đổi đường 1 mét thành đường 1,435 mét, đổi đường đơn thành đường đôi...
3. So sánh giữa đầu tư cho đường sắt cao tốc với đầu tư cho các hệ thống giao thông khác như đường bộ, hàng không, đường thủy.
4. So sánh giữa đầu tư cho đường sắt cao tốc với các mục tiêu khác như đầu tư cho nguồn nhân lực, đầu tư cho nông nhiệp...
Trong 4 cấp so sánh trên đây, cấp 1 là so sánh trong dự án đường sắt cao tốc. Cấp 2, 3, 4 đều là các so sánh ngoài dự án. Trong đó cấp 2 phục vụ việc quyết định chủ trương đầu tư của ngành đường sắt. Khi chứng minh sự cần thiết phải đầu tư, tư vấn dự án chắc phải thực hiện so sánh ở cấp này.
Việc so sánh chọn phương án ở cấp 3 và cấp 4 thuộc thẩm quyền của Bộ Giao thông Vận tải và Chính phủ. Được biết việc so sánh này do các cơ quan thẩm định thực hiện để trình Chính phủ và Quốc hội. Để thẩm định dự án này, các cơ quan có trách nhiệm cũng đã sử dụng các cơ quan chuyên môn và tổ chức lấy ý kiến chuyên gia. Nhưng như đã thấy, các đại biếu Quốc hội vẫn thiếu thông tin, dự án đã bị gác lại.
Để biểu quyết, các đại biểu Quốc hội phải thực hiện so sánh phương án ở cấp 3 và 4 (so sánh ngoài dự án). Nhưng đến nay chưa có luật nào quy định về việc chuẩn bị thông tin cho việc so sánh này. Các luật chỉ quy định dự án phải phù hợp với quy hoạch và kế hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt. Nội dung thẩm định dự án được quy định rõ hơn trong các nghị định của Chính phủ cũng chỉ tập trung xem xét tính xác thực của bản thuyết minh dự án, nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và sự phù hợp với quy hoạch, kế hoạch.
Việc so sánh ngoài dự án đã được thực hiện ngay từ khâu lập quy hoạch và kế hoạch chưa? Xem xét dự án đường sắt cao tốc và đồ án quy hoạch mở rộng Thủ đô Hà Nội đều chưa thấy được điều đó. So sánh ngoài dự án đòi hỏi thông tin đầy đủ và toàn diện, đây là yêu cầu khó khăn ngay cả đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực liên quan. Vừa qua, các ý kiến thảo luận ở Quốc hội cũng như trên báo đài nhiều lúc theo cảm tính hơn là trên cơ sở dữ liệu. Ngoài ra, các ý kiến còn bị chi phối bởi các nhóm lợi ích cục bộ riêng. Việc thương thảo để giải quyết hài hòa các lợi ích của nhân dân dễ biến thành việc cân đối các lợi ích cục bộ.
So sánh ngoài dự án: so sánh cấp chiến lược
Dù là dự án của doanh nghiệp hay của quốc gia, so sánh ngoài dự án đều là so sánh ở cấp chiến lược. Trong điều kiện chưa có các quy định cụ thể về nội dung và cách thức so sánh ngoài dự án, việc chọn phương án phụ thuộc rất nhiều vào tài năng của người đứng đầu. Quyết định đầu tư vào đâu cũng giống như quyết định mở chiến dịch ở đâu trong chiến tranh. Trước đây, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng đã để lại dấu ấn đậm nét khi quyết định đầu tư đường dây điện 500 KV Bắc - Nam.
Ở Hàn Quốc, Lý Thừa Vãn là một nhà độc tài, nhưng ông ta đã để lại cho Hàn Quốc thành quả của chủ trương đầu tư vượt trội cho giáo dục ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, khi Hàn Quốc vừa thoát khỏi chiến tranh và còn rất nghèo khổ. Cho đến nay, khi so sánh hai nền kinh tế tương đương nhau - Tây Ban Nha và Hàn Quốc - người ta đã cho rằng Hàn Quốc sẽ nhanh chóng vượt xa Tây Ban Nha, vì Hàn Quốc đầu tư cho giáo dục cao hơn đáng kể. Các nhà chiến lược tài năng biết lựa chọn thông tin và so sánh ngoài dự án, biết chọn lọc và nghe ý kiến chuyên môn, nhiều khi ý kiến thiểu số đúng đắn hơn đa số.
Đối với một thành phố hay một quốc gia, rất cần những cơ quan nghiên cứu chiến lược mạnh. Nhiệm vụ số 1 và có tính chất bao trùm của các cơ quan này là tham mưu cho cấp thẩm quyền trả lời câu hỏi: “Đầu tư vào đâu?”. Trước hết, các cơ quan nghiên cứu này phải đồng thời là các trung tâm thông tin và có năng lực thu thập và xử lý thông tin mạnh.
“Nhà ta nghèo, khó kiếm được thức ăn nên chúng ta phải giỏi nấu nướng”, các bà mẹ thường dạy chúng ta như vậy. Suy rộng ra, nước ta còn nghèo nên phải giỏi khai thác và sử dụng nguồn lực phát triển đất nước, ngõ hầu sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Bác Hồ và các bậc tiền bối đã chiến đấu giành lại nền độc lập tự do ngày nay.
Thứ Tư, 15/9/2010, 17:10 (GMT+7)
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/40221/
(TBKTSG) - Dự án đề cập trong bài này là dự án đầu tư nói chung (theo Luật Đầu tư) và dự án đầu tư xây dựng công trình theo Luật Xây dựng. Khi đầu tư, chủ đầu tư phải lập dự án để xem xét, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư.
Cơ sở để quyết định đầu tư vào đâu
Đối với một doanh nghiệp, khi có sẵn một nguồn tài chính, việc cân nhắc đầu tiên là “cần đầu tư vào đâu?”. Để trả lời câu hỏi này, chủ doanh nghiệp buộc phải so sánh nhiều hướng khác nhau như đầu tư vào kinh doanh xây dựng bất động sản, hay vào kinh doanh hàng hóa, hay đơn giản là mua chứng khoán.
Đối với một thành phố hay một quốc gia, chính quyền vốn sinh ra là để huy động và sử dụng mọi nguồn lực phục vụ việc xây dựng và bảo vệ đất nước cũng phải cân nhắc việc “đầu tư vào đâu” như vậy. Dựa trên cơ sở nào để quyết định việc đầu tư vào đâu?
Các chủ doanh nghiệp cũng như Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ hay chính quyền các cấp) đều cần có đủ thông tin để chọn hướng đầu tư hay quyết định chủ trương đầu tư. Trong khi đó, nội dung của dự án đầu tư theo Luật Xây dựng chỉ là những thông tin về dự án.
Cụ thể, tại điều 37 Luật Xây dựng, nội dung chủ yếu của phần thuyết minh là những thông tin sau: “Mục tiêu, địa điểm, quy mô, công suất, công nghệ, các giải pháp kinh tế kỹ thuật, nguồn vốn và tổng mức đầu tư, chủ đầu tư và hình thức quản lý dự án, hình thức đầu tư, thời gian, hiệu quả, phòng chống cháy nổ, đánh giá tác động môi trường”. Có thể thấy các thông tin trong thuyết minh dự án là những thông tin sau khi đã có quyết định về chủ trương đầu tư.
Đối với các công trình xây dựng có quy mô lớn, theo Luật Xây dựng: “Trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phải lập báo cáo đầu tư để trình cấp có thẩm quyền cho phép đầu tư”. Nội dung báo cáo đầu tư bao gồm sự cần thiết đầu tư, dự kiến quy mô đầu tư, phân tích lựa chọn sơ bộ về công nghệ, xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và trả nợ, tính toán sơ bộ hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội...
Có thể thấy các nội dung này chủ yếu vẫn là những thông tin về bản thân dự án, ngoại trừ thông tin về “sự cần thiết phải đầu tư”. Những thông tin sơ bộ về dự án và nội dung thuyết minh về sự cần thiết phải đầu tư chỉ để trả lời câu hỏi: “Có nên đầu tư dự án này hay không?”, chứ chưa trả lời được câu hỏi: “Cần đầu tư vào đâu?”.
Để trả lời câu hỏi: “Cần đầu tư vào đâu?” phải so sánh hiệu quả của các dự án với nhau, đó là sự so sánh ngoài dự án.Hãy lấy dự án đường sắt cao tốc được Quốc hội thảo luận trong kỳ họp vừa qua làm ví dụ. Ta có thể thấy có 4 cấp so sánh lựa chọn phương án chính:
1. So sánh các phương án của đường sắt cao tốc như phương án tuyến, phương án phân kỳ đầu tư, phương án huy động vốn...
2. So sánh các phương án đầu tư đường sắt như xây đường cao tốc, cải tạo từng bước hệ thống cũ, đổi đường 1 mét thành đường 1,435 mét, đổi đường đơn thành đường đôi...
3. So sánh giữa đầu tư cho đường sắt cao tốc với đầu tư cho các hệ thống giao thông khác như đường bộ, hàng không, đường thủy.
4. So sánh giữa đầu tư cho đường sắt cao tốc với các mục tiêu khác như đầu tư cho nguồn nhân lực, đầu tư cho nông nhiệp...
Trong 4 cấp so sánh trên đây, cấp 1 là so sánh trong dự án đường sắt cao tốc. Cấp 2, 3, 4 đều là các so sánh ngoài dự án. Trong đó cấp 2 phục vụ việc quyết định chủ trương đầu tư của ngành đường sắt. Khi chứng minh sự cần thiết phải đầu tư, tư vấn dự án chắc phải thực hiện so sánh ở cấp này.
Việc so sánh chọn phương án ở cấp 3 và cấp 4 thuộc thẩm quyền của Bộ Giao thông Vận tải và Chính phủ. Được biết việc so sánh này do các cơ quan thẩm định thực hiện để trình Chính phủ và Quốc hội. Để thẩm định dự án này, các cơ quan có trách nhiệm cũng đã sử dụng các cơ quan chuyên môn và tổ chức lấy ý kiến chuyên gia. Nhưng như đã thấy, các đại biếu Quốc hội vẫn thiếu thông tin, dự án đã bị gác lại.
Để biểu quyết, các đại biểu Quốc hội phải thực hiện so sánh phương án ở cấp 3 và 4 (so sánh ngoài dự án). Nhưng đến nay chưa có luật nào quy định về việc chuẩn bị thông tin cho việc so sánh này. Các luật chỉ quy định dự án phải phù hợp với quy hoạch và kế hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt. Nội dung thẩm định dự án được quy định rõ hơn trong các nghị định của Chính phủ cũng chỉ tập trung xem xét tính xác thực của bản thuyết minh dự án, nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và sự phù hợp với quy hoạch, kế hoạch.
Việc so sánh ngoài dự án đã được thực hiện ngay từ khâu lập quy hoạch và kế hoạch chưa? Xem xét dự án đường sắt cao tốc và đồ án quy hoạch mở rộng Thủ đô Hà Nội đều chưa thấy được điều đó. So sánh ngoài dự án đòi hỏi thông tin đầy đủ và toàn diện, đây là yêu cầu khó khăn ngay cả đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực liên quan. Vừa qua, các ý kiến thảo luận ở Quốc hội cũng như trên báo đài nhiều lúc theo cảm tính hơn là trên cơ sở dữ liệu. Ngoài ra, các ý kiến còn bị chi phối bởi các nhóm lợi ích cục bộ riêng. Việc thương thảo để giải quyết hài hòa các lợi ích của nhân dân dễ biến thành việc cân đối các lợi ích cục bộ.
So sánh ngoài dự án: so sánh cấp chiến lược
Dù là dự án của doanh nghiệp hay của quốc gia, so sánh ngoài dự án đều là so sánh ở cấp chiến lược. Trong điều kiện chưa có các quy định cụ thể về nội dung và cách thức so sánh ngoài dự án, việc chọn phương án phụ thuộc rất nhiều vào tài năng của người đứng đầu. Quyết định đầu tư vào đâu cũng giống như quyết định mở chiến dịch ở đâu trong chiến tranh. Trước đây, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng đã để lại dấu ấn đậm nét khi quyết định đầu tư đường dây điện 500 KV Bắc - Nam.
Ở Hàn Quốc, Lý Thừa Vãn là một nhà độc tài, nhưng ông ta đã để lại cho Hàn Quốc thành quả của chủ trương đầu tư vượt trội cho giáo dục ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, khi Hàn Quốc vừa thoát khỏi chiến tranh và còn rất nghèo khổ. Cho đến nay, khi so sánh hai nền kinh tế tương đương nhau - Tây Ban Nha và Hàn Quốc - người ta đã cho rằng Hàn Quốc sẽ nhanh chóng vượt xa Tây Ban Nha, vì Hàn Quốc đầu tư cho giáo dục cao hơn đáng kể. Các nhà chiến lược tài năng biết lựa chọn thông tin và so sánh ngoài dự án, biết chọn lọc và nghe ý kiến chuyên môn, nhiều khi ý kiến thiểu số đúng đắn hơn đa số.
Đối với một thành phố hay một quốc gia, rất cần những cơ quan nghiên cứu chiến lược mạnh. Nhiệm vụ số 1 và có tính chất bao trùm của các cơ quan này là tham mưu cho cấp thẩm quyền trả lời câu hỏi: “Đầu tư vào đâu?”. Trước hết, các cơ quan nghiên cứu này phải đồng thời là các trung tâm thông tin và có năng lực thu thập và xử lý thông tin mạnh.
“Nhà ta nghèo, khó kiếm được thức ăn nên chúng ta phải giỏi nấu nướng”, các bà mẹ thường dạy chúng ta như vậy. Suy rộng ra, nước ta còn nghèo nên phải giỏi khai thác và sử dụng nguồn lực phát triển đất nước, ngõ hầu sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Bác Hồ và các bậc tiền bối đã chiến đấu giành lại nền độc lập tự do ngày nay.
Thứ Năm, 16 tháng 9, 2010
Công bằng của chủ nghĩa xã hội
http://sgtt.vn/Goc-nhin/129469/Cong-bang-cua-chu-nghia-xa-hoi.html
Sài Gòn Tiếp Thị trao đổi thêm với TS Nghĩa về chủ đề này.
Ông đã đề cập đến vấn đề cốt lõi mà chủ nghĩa xã hội hướng tới. Có cách giải quyết nào tốt hơn không?
Có học giả quốc tế gần đây bình luận rằng người Trung Quốc coi chủ nghĩa xã hội như là một brand name (thương hiệu). Dưới chữ đó người ta có thể hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu bám vào học thuyết cũ mà coi chủ nghĩa xã hội với những nền tảng số một là doanh nghiệp nhà nước, số hai là sở hữu toàn dân về các loại tư liệu sản xuất, số ba là nền kinh tế chỉ huy thì thất bại. Vì thế Trung Quốc và các nước cộng sản phải chuyển đổi cách hiểu một cách uyển chuyển. Người Việt Nam cũng như thế thôi, chúng ta đã cải cách bằng uyển ngữ, những ngôn ngữ có thể phát huy được các sức mạnh xã hội. Vậy phải tìm cách định nghĩa lại những giá trị xã hội chủ nghĩa cho nó tử tế hơn, nhân văn hơn, linh hoạt hơn.
Chúng tôi đi theo hướng thứhai, coi chủ nghĩa xã hội là phúc lợi được chia một cách công bằng cho các nhóm, đặc biệt là nhóm yếu thế. Chủ nghĩa xã hội là quan niệm về phân bổ phúc lợi, làm cho doanh nghiệp phải có trách nhiệm và người dân phải có tiếng nói trong xã hội. Hiểu cách đó giúp cho chúng ta tiếp tục cải cách. Còn nếu cứ bám chặt vào các khái niệm cũ thì chúng ta tự giam chúng ta trong lâu đài quan niệm.
Gần đây một số học giả nói nhiều về các nhóm lợi ích tác động đến chính sách, gây bất bình đẳng trong kinh doanh, trong xã hội. Vậy đâu là tính công bằng của chủ nghĩa xã hội, theo ông?
Quả thật khác với cách đây mười năm, các nhóm lợi ích ngày nay không còn che giấu vai trò ngày càng tích cực của họ trong việc vận động chính sách. Ví dụ như các tập đoàn thường xuyên có các cuộc gặp với lãnh đạo hay tham gia vào đề xuất chính sách. Vì vậy, nhiều người đánh giá luật kinh tế của Việt Nam có lợi thứ nhất cho Nhà nước để quản lý, thứ hai cho các tập đoàn và doanh nhân. Còn người tiêu dùng không được gì. Ví dụ, anh thử đi mua một căn hộ đi, anh có được đàm phán với người bán căn hộ về hợp đồng không? Anh sẽ thấy trong bối cảnh bất cân xứng về thông tin, cuộc chơi thuộc về người có tiền và quyền lực.
Ví dụ cụ thể về vấn đề này, theo cách hiểu của ông, là việc gần đây bộ Tư pháp và tổng cục Thuế ký hợp đồng hỗ trợ tư pháp cho Petro Vietnam có phải không?
Đó là một hành vi không khéo về chính trị. Vì bộ Tư pháp là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành luật pháp cho quốc gia chứ không phải cho một doanh nghiệp.
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá cao, nên cần nhiều đất đai. Nhà nước đã quy định là doanh nghiệp lấy đất cần trực tiếp thoả thuận với dân nhưng hầu như chính quyền địa phương lại làm thay họ. Kết cục là người dân bị thu hồi đất mà không thể kêu. Ông bình luận thế nào về hiện tượng này?
Đó là một câu hỏi hay. Cần nghiên cứu thêm về vấn đề đó. Còn cá nhân tôi chỉ nói là Nhà nước mà bảo lãnh cho doanh nghiệp, đi vay vốn, làm thay doanh nghiệp là điều không nên.
Ông có thể nói gì thêm về khái niệm sở hữu toàn dân?
Tôi đã từng nói công khai rằng sở hữu toàn dân là một khái niệm chính trị. Chừng nào mà khái niệm chính trị đó không có hại thì không sao. Nhưng dưới cái mũ sở hữu toàn dân nó đã gây ra rất nhiều bất công, làm cho sở hữu của toàn dân tộc rơi vào tay của những nhóm người có ảnh hưởng. Vì vậy, cần có những khái niệm có thể dùng được để bảo vệ lợi ích quốc gia và phúc lợi công bằng.
Chúng tôi quan niệm Nhà nước chỉ là một thành tố trong quốc gia và vì thế sở hữu phải của nhiều thế hệ. Ví dụ như bờ biển, sông ngòi, rừng,… Ngoài ra, còn đòi hỏi phải có sự phân quyền rạch ròi cho chính quyền địa phương… Vì thế chúng tôi cho rằng nên thay đổi quan niệm chính trị sở hữu toàn dân thành quan niệm pháp lý rạch ròi hơn, là pháp nhân quốc gia.
Pháp nhân quốc gia hình thành ở hai cấp độ, cấp toàn quốc và cấp chính quyền địa phương. Điều này sẽ dẫn đến luận điểm chắc chắn là toàn bộ tài sản đấy thuộc về một cơ quan quản lý công sản. Một bộ hay một sở không thể bán trụ sở của mình.
Mới đây một số sở tư nhân hoá trụ sở là hiện tượng quá lạm quyền bởi lẽ sở chỉ là cơ quan giúp việc cho chính quyền địa phương. Chỉ có cơ quan quản lý công sản mới có quyền đó.
Thế thì, nếu chuyển đổi như vậy sẽ giúp minh định rõ hơn trách nhiệm của chính phủ với khối tài sản quốc gia. Nếu chính phủ không quản lý được thì quốc hội mới chất vấn và buộc chính phủ chịu trách nhiệm. Càng không nên để chính phủ có quá nhiều quyền trong việc tiêu dùng tài sản quốc gia.
Ví dụ một bộ lại giao cho hai ông làm chủ tịch hai tập đoàn. Hai người đó có quyền biểu quyết khổng lồ với khối tài sản. Bên cạnh đó, tài sản của hàng ngàn năm tích lũy như bờ biển hay đảo đang bị tư nhân hoá. Đó là bi kịch đã diễn ra trong năm năm vừa rồi. Khối lượng công sản đã vào tay tư nhân tăng lên khủng khiếp. Anh có thể thấy hiện tượng tư nhân hoá ở khắp nơi.
Nhưng sở hữu toàn dân là khái niệm gắn với thể chế. Làm sao mà sửa được?
Luật sinh ra để phục vụ con người, không phải là những thứ bất biến. Nếu luật pháp không hợp với thời đại thì phải sửa, thì luật mới sống.
Không có gì không làm được. Nếu không sửa được hiến pháp thì người ta phải giải thích hiến pháp, hay phải ban hành đạo luật cắt nghĩa hiến pháp. Hay một cách khác, nếu nó khó sửa quá thì tôi đưa ra công cụ thay thế, cho vào đó linh hồn mới rồi giải thích nó theo nghĩa mới.
Cả cuộc cải cách của Việt Nam trong bốn năm liền từ sau 1986 đã diễn ra kinh tế tư bản tư nhân nhưng có sửa hiến pháp năm 80 đâu. Đến năm 92 mới sửa đấy thôi.
Tức là sửa khái niệm này về mặt thực tế thì chả khó gì cả.
Hiện nay, ông thấy sức ép đó ở mức độ nào?
Một đất nước tồn tại nó có những cán cân. Nhưng hiện nay đất đai cho nông nghiệp suy giảm, sông Mekong bị đe doạ, người nông dân khiếu kiện tập thể tăng lên, sự bức bối trong làng xã tăng lên, nông dân chán ruộng,… Anh sẽ thấy sức ép dữ dội xuất phát từ những nông dân không còn duy trì cuộc sống của họ được nữa.
Tư Giang (thực hiện)
Sài Gòn Tiếp Thị trao đổi thêm với TS Nghĩa về chủ đề này.
Ông đã đề cập đến vấn đề cốt lõi mà chủ nghĩa xã hội hướng tới. Có cách giải quyết nào tốt hơn không?
Có học giả quốc tế gần đây bình luận rằng người Trung Quốc coi chủ nghĩa xã hội như là một brand name (thương hiệu). Dưới chữ đó người ta có thể hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu bám vào học thuyết cũ mà coi chủ nghĩa xã hội với những nền tảng số một là doanh nghiệp nhà nước, số hai là sở hữu toàn dân về các loại tư liệu sản xuất, số ba là nền kinh tế chỉ huy thì thất bại. Vì thế Trung Quốc và các nước cộng sản phải chuyển đổi cách hiểu một cách uyển chuyển. Người Việt Nam cũng như thế thôi, chúng ta đã cải cách bằng uyển ngữ, những ngôn ngữ có thể phát huy được các sức mạnh xã hội. Vậy phải tìm cách định nghĩa lại những giá trị xã hội chủ nghĩa cho nó tử tế hơn, nhân văn hơn, linh hoạt hơn.
Chúng tôi đi theo hướng thứhai, coi chủ nghĩa xã hội là phúc lợi được chia một cách công bằng cho các nhóm, đặc biệt là nhóm yếu thế. Chủ nghĩa xã hội là quan niệm về phân bổ phúc lợi, làm cho doanh nghiệp phải có trách nhiệm và người dân phải có tiếng nói trong xã hội. Hiểu cách đó giúp cho chúng ta tiếp tục cải cách. Còn nếu cứ bám chặt vào các khái niệm cũ thì chúng ta tự giam chúng ta trong lâu đài quan niệm.
Gần đây một số học giả nói nhiều về các nhóm lợi ích tác động đến chính sách, gây bất bình đẳng trong kinh doanh, trong xã hội. Vậy đâu là tính công bằng của chủ nghĩa xã hội, theo ông?
Quả thật khác với cách đây mười năm, các nhóm lợi ích ngày nay không còn che giấu vai trò ngày càng tích cực của họ trong việc vận động chính sách. Ví dụ như các tập đoàn thường xuyên có các cuộc gặp với lãnh đạo hay tham gia vào đề xuất chính sách. Vì vậy, nhiều người đánh giá luật kinh tế của Việt Nam có lợi thứ nhất cho Nhà nước để quản lý, thứ hai cho các tập đoàn và doanh nhân. Còn người tiêu dùng không được gì. Ví dụ, anh thử đi mua một căn hộ đi, anh có được đàm phán với người bán căn hộ về hợp đồng không? Anh sẽ thấy trong bối cảnh bất cân xứng về thông tin, cuộc chơi thuộc về người có tiền và quyền lực.
Ví dụ cụ thể về vấn đề này, theo cách hiểu của ông, là việc gần đây bộ Tư pháp và tổng cục Thuế ký hợp đồng hỗ trợ tư pháp cho Petro Vietnam có phải không?
Đó là một hành vi không khéo về chính trị. Vì bộ Tư pháp là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành luật pháp cho quốc gia chứ không phải cho một doanh nghiệp.
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá cao, nên cần nhiều đất đai. Nhà nước đã quy định là doanh nghiệp lấy đất cần trực tiếp thoả thuận với dân nhưng hầu như chính quyền địa phương lại làm thay họ. Kết cục là người dân bị thu hồi đất mà không thể kêu. Ông bình luận thế nào về hiện tượng này?
Đó là một câu hỏi hay. Cần nghiên cứu thêm về vấn đề đó. Còn cá nhân tôi chỉ nói là Nhà nước mà bảo lãnh cho doanh nghiệp, đi vay vốn, làm thay doanh nghiệp là điều không nên.
Ông có thể nói gì thêm về khái niệm sở hữu toàn dân?
Tôi đã từng nói công khai rằng sở hữu toàn dân là một khái niệm chính trị. Chừng nào mà khái niệm chính trị đó không có hại thì không sao. Nhưng dưới cái mũ sở hữu toàn dân nó đã gây ra rất nhiều bất công, làm cho sở hữu của toàn dân tộc rơi vào tay của những nhóm người có ảnh hưởng. Vì vậy, cần có những khái niệm có thể dùng được để bảo vệ lợi ích quốc gia và phúc lợi công bằng.
Chúng tôi quan niệm Nhà nước chỉ là một thành tố trong quốc gia và vì thế sở hữu phải của nhiều thế hệ. Ví dụ như bờ biển, sông ngòi, rừng,… Ngoài ra, còn đòi hỏi phải có sự phân quyền rạch ròi cho chính quyền địa phương… Vì thế chúng tôi cho rằng nên thay đổi quan niệm chính trị sở hữu toàn dân thành quan niệm pháp lý rạch ròi hơn, là pháp nhân quốc gia.
Pháp nhân quốc gia hình thành ở hai cấp độ, cấp toàn quốc và cấp chính quyền địa phương. Điều này sẽ dẫn đến luận điểm chắc chắn là toàn bộ tài sản đấy thuộc về một cơ quan quản lý công sản. Một bộ hay một sở không thể bán trụ sở của mình.
Mới đây một số sở tư nhân hoá trụ sở là hiện tượng quá lạm quyền bởi lẽ sở chỉ là cơ quan giúp việc cho chính quyền địa phương. Chỉ có cơ quan quản lý công sản mới có quyền đó.
Thế thì, nếu chuyển đổi như vậy sẽ giúp minh định rõ hơn trách nhiệm của chính phủ với khối tài sản quốc gia. Nếu chính phủ không quản lý được thì quốc hội mới chất vấn và buộc chính phủ chịu trách nhiệm. Càng không nên để chính phủ có quá nhiều quyền trong việc tiêu dùng tài sản quốc gia.
Ví dụ một bộ lại giao cho hai ông làm chủ tịch hai tập đoàn. Hai người đó có quyền biểu quyết khổng lồ với khối tài sản. Bên cạnh đó, tài sản của hàng ngàn năm tích lũy như bờ biển hay đảo đang bị tư nhân hoá. Đó là bi kịch đã diễn ra trong năm năm vừa rồi. Khối lượng công sản đã vào tay tư nhân tăng lên khủng khiếp. Anh có thể thấy hiện tượng tư nhân hoá ở khắp nơi.
Nhưng sở hữu toàn dân là khái niệm gắn với thể chế. Làm sao mà sửa được?
Luật sinh ra để phục vụ con người, không phải là những thứ bất biến. Nếu luật pháp không hợp với thời đại thì phải sửa, thì luật mới sống.
Không có gì không làm được. Nếu không sửa được hiến pháp thì người ta phải giải thích hiến pháp, hay phải ban hành đạo luật cắt nghĩa hiến pháp. Hay một cách khác, nếu nó khó sửa quá thì tôi đưa ra công cụ thay thế, cho vào đó linh hồn mới rồi giải thích nó theo nghĩa mới.
Cả cuộc cải cách của Việt Nam trong bốn năm liền từ sau 1986 đã diễn ra kinh tế tư bản tư nhân nhưng có sửa hiến pháp năm 80 đâu. Đến năm 92 mới sửa đấy thôi.
Tức là sửa khái niệm này về mặt thực tế thì chả khó gì cả.
Hiện nay, ông thấy sức ép đó ở mức độ nào?
Một đất nước tồn tại nó có những cán cân. Nhưng hiện nay đất đai cho nông nghiệp suy giảm, sông Mekong bị đe doạ, người nông dân khiếu kiện tập thể tăng lên, sự bức bối trong làng xã tăng lên, nông dân chán ruộng,… Anh sẽ thấy sức ép dữ dội xuất phát từ những nông dân không còn duy trì cuộc sống của họ được nữa.
Tư Giang (thực hiện)
17 phím tắt vô giá trên bàn phím
http://nld.com.vn/20100916032554920P0C1039/17-phim-tat-vo-gia-tren-ban-phim.htm
F2: Đặt lại tên file trong lúc vội vàng có thể khiến bạn dễ dàng thao tác sai - click quá nhanh và bạn tình cờ mở một file. Đơn giản hơn là hãy nhấn phím F2 trên bàn phím khi file được chọn.
Ctrl + F2: Preview (xem sơ lược) văn bản. Muốn bỏ chế độ preview, làm lại Ctrl + F2.
Shift + F3: Để làm nổi bật đoạn văn bản bằng chữ in hoa, đơn giản là bôi đen đoạn văn bản, nhấn đồng thời phím Shift + F3. Nếu muốn cho đoạn văn bản trở lại chữ thường, hãy lập lại động tác nhấn đồng thời Shift + F3. Muốn cho chữ cái đầu tiên trở thành chữ in hoa, đặt con trỏ trước chữ đó và nhấn phím Shift + F3.
Windows + E: Windows Explorer là cổng tới file và tài liệu của bạn, song để mở nó thường phải liên quan đến desktop hoặc thanh Start Menu. Có một cách khác nhanh hơn là nhấn phím Windows-E và nó sẽ đưa bạn đến ngay Computer (Vista) hay My Computer (XP), một vị trí mặc định sẵn.
Windows + F: Tìm kiếm file có thể là một rắc rối nếu bạn là một người tích trữ tài liệu và cách không lãng phí thời gian săn tìm file là sử dụng phím tắt , sẽ mở ra một cửa sổ tìm kiếm và điền vào càng nhiều thông tin có thể về file bạn đang cần tìm.
Windows + L: Động tác này sẽ khóa ngay PC của bạn mà không cần chờ cho đến khi chế độ bảo vệ màn hình hoạt động.
Windows + M: Vào cuối ngày làm việc, mọi người bị bội thực với một bộ sưu tập các cửa sổ đang mở. sẽ thu nhỏ những cửa sổ này để lộ ra màn hình chính (desktop) và sẽ khôi phục lại những thứ bạn đã bị thu nhỏ trước đó.
Windows + R: Hộp Run này là cách tiết kiệm thời gian cực lớn với XP. Từ đây, bạn có thể mở tất cả loại ứng dụng mà không cần chuột.
Windows + F1: Trong khi F1 sẽ đưa ra cho bạn file Help (Hỗ trợ) trong hầu hết các ứng dụng, sẽ mở cửa sổ Windows Help. Điều này có thể giúp bạn tiết kiệm thời gian khi bạn không thể nhớ làm thế nào thay đổi một sự sắp đặt hoặc tìm một tính năng nhất định.
Windows + Tab: Chuyển dịch giữa các chương trình bạn đang sử dụng. Ở XP, bạn có thể chuyển các cửa sổ bằng cách nhấn phím để chọn đơn vị taskbar với màu sắc khác (xám hoặc xanh) để nhấn mạnh, rồi dùng các phím điều hướng lên hoặc xuống. Nhấn phím Enter sẽ đưa bạn đến cửa sổ đã được lựa chọn.
Windows + Pause/Break: Với những người nâng cấp và điều chỉnh phần cứng, truy cập quản lý thiết bị Device Manager và các cài đặt là một nhiệm vụ thường xuyên. Phím tắt này sẽ đem lại ngay cửa sổ cần thiết cho họ trong nháy mắt.
Shift + Delete: Thùng rác Recycle Bin là chỗ tuyệt vời dành cho những ai hay xóa các file mà không suy nghĩ song nó cũng tiềm ẩn nguy cơ cho phép người khác có thể truy cập vào các file nhạy cảm. Giữ phím (hoặc giữ phím Shift trong khi kéo file hoặc tệp vào thùng rác). Các file sẽ bị xóa ngay tức thì.
Ctrl + Enter: Một khi bạn đã chọ thanh địa chỉ trong trình duyệt Firefox hoặc Internet Explorer, bạn có thể tiết kiệm thời gian bằng việc gõ chỉ phần giữa của một tên miền. sẽ thêm www. và .com cho bạn. thêm www. Và .org.
Alt + Esc: Nếu bạn cần chuyển nhanh đến một cửa sổ khi đang làm việc ở một cửa sổ khác, bạn có thể chọn nó từ thanh taskbar. sẽ “khử” cửa sổ phía sau của bạn và đưa bạn đến một cửa sổ kế ngay đó.
Alt + F4: Bỏ ứng dụng đang hoạt động hoặc tắt Windows nếu không có ứng dụng nào.
Alt + PrtScrn: Nếu bạn cần chụp một cửa sổ, chỉ cần giữ để tóm được một cửa sổ hoạt động.
Alt + Backspace: Trong Microsoft Office, bạn có thể làm lại bất kỳ hiệu chỉnh tự động nào và định dạng tự động bằng việc nhẫn phím .
F2: Đặt lại tên file trong lúc vội vàng có thể khiến bạn dễ dàng thao tác sai - click quá nhanh và bạn tình cờ mở một file. Đơn giản hơn là hãy nhấn phím F2 trên bàn phím khi file được chọn.
Ctrl + F2: Preview (xem sơ lược) văn bản. Muốn bỏ chế độ preview, làm lại Ctrl + F2.
Shift + F3: Để làm nổi bật đoạn văn bản bằng chữ in hoa, đơn giản là bôi đen đoạn văn bản, nhấn đồng thời phím Shift + F3. Nếu muốn cho đoạn văn bản trở lại chữ thường, hãy lập lại động tác nhấn đồng thời Shift + F3. Muốn cho chữ cái đầu tiên trở thành chữ in hoa, đặt con trỏ trước chữ đó và nhấn phím Shift + F3.
Windows + E: Windows Explorer là cổng tới file và tài liệu của bạn, song để mở nó thường phải liên quan đến desktop hoặc thanh Start Menu. Có một cách khác nhanh hơn là nhấn phím Windows-E và nó sẽ đưa bạn đến ngay Computer (Vista) hay My Computer (XP), một vị trí mặc định sẵn.
Windows + F: Tìm kiếm file có thể là một rắc rối nếu bạn là một người tích trữ tài liệu và cách không lãng phí thời gian săn tìm file là sử dụng phím tắt , sẽ mở ra một cửa sổ tìm kiếm và điền vào càng nhiều thông tin có thể về file bạn đang cần tìm.
Windows + L: Động tác này sẽ khóa ngay PC của bạn mà không cần chờ cho đến khi chế độ bảo vệ màn hình hoạt động.
Windows + M: Vào cuối ngày làm việc, mọi người bị bội thực với một bộ sưu tập các cửa sổ đang mở. sẽ thu nhỏ những cửa sổ này để lộ ra màn hình chính (desktop) và sẽ khôi phục lại những thứ bạn đã bị thu nhỏ trước đó.
Windows + R: Hộp Run này là cách tiết kiệm thời gian cực lớn với XP. Từ đây, bạn có thể mở tất cả loại ứng dụng mà không cần chuột.
Windows + F1: Trong khi F1 sẽ đưa ra cho bạn file Help (Hỗ trợ) trong hầu hết các ứng dụng, sẽ mở cửa sổ Windows Help. Điều này có thể giúp bạn tiết kiệm thời gian khi bạn không thể nhớ làm thế nào thay đổi một sự sắp đặt hoặc tìm một tính năng nhất định.
Windows + Tab: Chuyển dịch giữa các chương trình bạn đang sử dụng. Ở XP, bạn có thể chuyển các cửa sổ bằng cách nhấn phím để chọn đơn vị taskbar với màu sắc khác (xám hoặc xanh) để nhấn mạnh, rồi dùng các phím điều hướng lên hoặc xuống. Nhấn phím Enter sẽ đưa bạn đến cửa sổ đã được lựa chọn.
Windows + Pause/Break: Với những người nâng cấp và điều chỉnh phần cứng, truy cập quản lý thiết bị Device Manager và các cài đặt là một nhiệm vụ thường xuyên. Phím tắt này sẽ đem lại ngay cửa sổ cần thiết cho họ trong nháy mắt.
Shift + Delete: Thùng rác Recycle Bin là chỗ tuyệt vời dành cho những ai hay xóa các file mà không suy nghĩ song nó cũng tiềm ẩn nguy cơ cho phép người khác có thể truy cập vào các file nhạy cảm. Giữ phím (hoặc giữ phím Shift trong khi kéo file hoặc tệp vào thùng rác). Các file sẽ bị xóa ngay tức thì.
Ctrl + Enter: Một khi bạn đã chọ thanh địa chỉ trong trình duyệt Firefox hoặc Internet Explorer, bạn có thể tiết kiệm thời gian bằng việc gõ chỉ phần giữa của một tên miền. sẽ thêm www. và .com cho bạn. thêm www. Và .org.
Alt + Esc: Nếu bạn cần chuyển nhanh đến một cửa sổ khi đang làm việc ở một cửa sổ khác, bạn có thể chọn nó từ thanh taskbar. sẽ “khử” cửa sổ phía sau của bạn và đưa bạn đến một cửa sổ kế ngay đó.
Alt + F4: Bỏ ứng dụng đang hoạt động hoặc tắt Windows nếu không có ứng dụng nào.
Alt + PrtScrn: Nếu bạn cần chụp một cửa sổ, chỉ cần giữ để tóm được một cửa sổ hoạt động.
Alt + Backspace: Trong Microsoft Office, bạn có thể làm lại bất kỳ hiệu chỉnh tự động nào và định dạng tự động bằng việc nhẫn phím .
Thứ Tư, 8 tháng 9, 2010
Doanh nghiệp chấm điểm các bộ: Không có điểm tốt!
Các bộ Công Thương, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư chỉ chớm ngưỡng điểm khá, Ngân hàng Nhà nước dẫn đầu nhóm trung bình, trong khi Xây dựng và Y tế ở cuối bảng xếp hạng chỉ số LDEA.
Sáng 8/9, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã công bố báo cáo đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các bộ liên quan đến doanh nghiệp (LDEA 2010) với kết quả xếp hạng của 14 bộ (bao gồm cả Ngân hàng Nhà nước).
Đa số các bộ chỉ đạt điểm trung bình
Phản ánh ý kiến đánh giá của 124 hiệp hội doanh nghiệp trên toàn quốc, phân theo 2 chỉ tiêu chính là xây dựng và thi hành pháp luật, nhóm nghiên cứu chỉ số LDEA cho rằng chất lượng các hoạt động này của 14 bộ là không cao.
Ở mức cao nhất, các bộ Công Thương, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động - Thương binh và Xã hội cũng chỉ đạt từ 6,13-6,05 điểm trên thang điểm 10. Trong khi đó, Bộ Xây dựng và Y tế chỉ đạt 4,74 và 4,66 điểm, ở vào nhóm tương đối thấp.
Một nửa trong tổng số các bộ rơi vào nhóm trung bình, gồm Ngân hàng Nhà nước (5,92 điểm), Bộ Tư pháp (5,9 điểm), Bộ Khoa học và Công nghệ (5,87), Bộ Thông tin và Truyền thông (5,68), Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (5,45), Bộ Tài nguyên và Môi trường (5,16) và Bộ Giao thông Vận tải (5,07).
Tuy nhiên, khi “chẻ” nhỏ các chỉ tiêu chính, đáng chú ý là chất lượng hoạt động lấy ý kiến xây dựng pháp luật ở mức khá (6,55 điểm), song chất lượng văn bản quy phạm pháp luật lại chỉ đạt mức trung bình (5,71 điểm). Các hiệp hội cũng đánh giá khá thấp chỉ tiêu tiếp cận thông tin pháp luật (4,09 điểm).
Theo nhóm nghiên cứu, ý kiến của các hiệp hội cho thấy hoạt động lấy ý kiến xây dựng pháp luật của các bộ hiện nay là tương đối tốt, cụ thể là mức độ công khai lấy ý kiến xây dựng pháp luật liên quan tới quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp.
“Tuy nhiên, các hiệp hội đánh giá về mức độ cầu thị của các bộ chưa cao, không có bộ nào được xếp loại tốt, hầu hết chỉ xếp ở loại khá hoặc trung bình”, báo cáo cho biết.
Liên quan đến vấn đề này, Phó tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI Trần Hữu Huỳnh cho biết, mức độ cầu thị của các bộ nói chung là yếu, văn hóa đối thoại giữa nhà nước và các doanh nghiệp còn chưa phổ biến.
Đồng tình với quan điểm này, ông Đặng Văn Thanh, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội cho rằng, có nhiều trường hợp việc xin ý kiến góp ý văn bản pháp luật của các bộ còn mang tính hình thức.
3 khó khăn của hiệp hội doanh nghiệp
Có 3 khó khăn lớn nhất đối với các hiệp hội được rút ra từ báo cáo của VCCI. Thứ nhất, khả năng tiếp cận thông tin, thể hiện ở cả hai nội dung: tiếp cận các thông tin xây dựng pháp luật và các quy định pháp luật sau khi được ban hành.
Thứ hai, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật không cao dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng, thể hiện ở chỗ pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội phát sinh, còn chồng chéo, mâu thuẫn, pháp luật không rõ ràng.
Thứ ba, các hoạt động thi hành pháp luật của các bộ còn chưa tháo gỡ được khó khăn cho doanh nghiệp, hiệp hội.
Các hiệp hội cho rằng họ gặp khó khăn nhất trong việc tiếp cận tới các thông tin xây dựng pháp luật để có thể tham gia góp ý, hoặc là không thể tiếp cận được tới các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hoặc là không được mời tham gia góp ý đối với những dự thảo đó.
Bên cạnh đó, nhiều hiệp hội cho rằng việc xây dựng pháp luật hiện hành vẫn còn thiên về tạo thuận lợi cho các cơ quan nhà nước mà chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp.
Theo các hiệp hội, việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện của các bộ hiện nay vẫn còn chậm, chưa đáp ứng thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Nhiều bộ chậm giải quyết khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát chưa hiệu quả dẫn đến tham nhũng và lãng phí. Chế tài, mức xử phạt chưa cụ thể, khung áp dụng rộng dễ gây ra tình trạng thiếu thống nhất trong thực tế.
Bên cạnh đó, các Bộ vẫn chưa có hướng dẫn kịp thời để bảo đảm việc áp dụng đồng bộ, thống nhất pháp luật tại các địa phương.
Thành lập doanh nghiệp dễ, xin đất khó
Một điểm đáng chú ý trong báo cáo đánh giá LDEA là nghiên cứu đề cập đến chất lượng văn bản quy phạm pháp luật thuộc 27 lĩnh vực liên quan nhất đến doanh nghiệp dựa trên phân ngành kinh tế quốc dân.
Kết quả cho thấy có sự phân biệt khá lớn giữa lĩnh vực có điểm số cao nhất. Trong khi thành lập doanh nghiệp được cho là đã thông thoáng hơn với cơ chế một cửa vận hành khá trơn chu, lĩnh vực đất đai được xem là có nhiều vướng mắc nhất, liên quan đến xây dựng và thực thi pháp luật.
Ở nhóm điểm khá gồm có thành lập, hoạt động, giải thể doanh nghiệp (6,49 điểm), sở hữu trí tuệ (6,48 điểm), kế toán, kiểm toán (6,47 điểm)…Các lĩnh vực có điểm số thấp nhất là đấu thầu (4,7 điểm), giao thông vận tải (4,54 điểm), thuế phí lệ phí (4,44 điểm), xây dựng bất động sản (4,11 điểm), đất đai (4,06 điểm).
Khu vực điểm số trung bình đáng chú ý có ngân hàng (5,76 điểm), công nghiệp (5,72 điểm), cạnh tranh (5,64 điểm), xuất nhập khẩu (5,6 điểm), bảo hiểm (5,34 điểm), hải quan (5,27 điểm), đầu tư (5,27 điểm), chứng khoán (5,26 điểm)…
Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh Nguyễn Phương Bắc cho rằng, những bộ có điểm số thấp không hẳn cán bộ ở đó không có năng lực, kém cởi mở, hay lĩnh vực họ phụ trách chậm chuyển biến mà còn do sự phức tạp của từng vấn đề khác nhau.
Nhiều đại biểu đồng tình rằng với kết quả này, dù rằng còn nhiều vấn đề bàn cãi song cũng đủ làm cơ sở cho các bộ trưởng “soi” vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật của ngành mình.
Sáng 8/9, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã công bố báo cáo đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các bộ liên quan đến doanh nghiệp (LDEA 2010) với kết quả xếp hạng của 14 bộ (bao gồm cả Ngân hàng Nhà nước).
Đa số các bộ chỉ đạt điểm trung bình
Phản ánh ý kiến đánh giá của 124 hiệp hội doanh nghiệp trên toàn quốc, phân theo 2 chỉ tiêu chính là xây dựng và thi hành pháp luật, nhóm nghiên cứu chỉ số LDEA cho rằng chất lượng các hoạt động này của 14 bộ là không cao.
Ở mức cao nhất, các bộ Công Thương, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động - Thương binh và Xã hội cũng chỉ đạt từ 6,13-6,05 điểm trên thang điểm 10. Trong khi đó, Bộ Xây dựng và Y tế chỉ đạt 4,74 và 4,66 điểm, ở vào nhóm tương đối thấp.
Một nửa trong tổng số các bộ rơi vào nhóm trung bình, gồm Ngân hàng Nhà nước (5,92 điểm), Bộ Tư pháp (5,9 điểm), Bộ Khoa học và Công nghệ (5,87), Bộ Thông tin và Truyền thông (5,68), Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (5,45), Bộ Tài nguyên và Môi trường (5,16) và Bộ Giao thông Vận tải (5,07).
Tuy nhiên, khi “chẻ” nhỏ các chỉ tiêu chính, đáng chú ý là chất lượng hoạt động lấy ý kiến xây dựng pháp luật ở mức khá (6,55 điểm), song chất lượng văn bản quy phạm pháp luật lại chỉ đạt mức trung bình (5,71 điểm). Các hiệp hội cũng đánh giá khá thấp chỉ tiêu tiếp cận thông tin pháp luật (4,09 điểm).
Theo nhóm nghiên cứu, ý kiến của các hiệp hội cho thấy hoạt động lấy ý kiến xây dựng pháp luật của các bộ hiện nay là tương đối tốt, cụ thể là mức độ công khai lấy ý kiến xây dựng pháp luật liên quan tới quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp.
“Tuy nhiên, các hiệp hội đánh giá về mức độ cầu thị của các bộ chưa cao, không có bộ nào được xếp loại tốt, hầu hết chỉ xếp ở loại khá hoặc trung bình”, báo cáo cho biết.
Liên quan đến vấn đề này, Phó tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI Trần Hữu Huỳnh cho biết, mức độ cầu thị của các bộ nói chung là yếu, văn hóa đối thoại giữa nhà nước và các doanh nghiệp còn chưa phổ biến.
Đồng tình với quan điểm này, ông Đặng Văn Thanh, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội cho rằng, có nhiều trường hợp việc xin ý kiến góp ý văn bản pháp luật của các bộ còn mang tính hình thức.
3 khó khăn của hiệp hội doanh nghiệp
Có 3 khó khăn lớn nhất đối với các hiệp hội được rút ra từ báo cáo của VCCI. Thứ nhất, khả năng tiếp cận thông tin, thể hiện ở cả hai nội dung: tiếp cận các thông tin xây dựng pháp luật và các quy định pháp luật sau khi được ban hành.
Thứ hai, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật không cao dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng, thể hiện ở chỗ pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội phát sinh, còn chồng chéo, mâu thuẫn, pháp luật không rõ ràng.
Thứ ba, các hoạt động thi hành pháp luật của các bộ còn chưa tháo gỡ được khó khăn cho doanh nghiệp, hiệp hội.
Các hiệp hội cho rằng họ gặp khó khăn nhất trong việc tiếp cận tới các thông tin xây dựng pháp luật để có thể tham gia góp ý, hoặc là không thể tiếp cận được tới các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hoặc là không được mời tham gia góp ý đối với những dự thảo đó.
Bên cạnh đó, nhiều hiệp hội cho rằng việc xây dựng pháp luật hiện hành vẫn còn thiên về tạo thuận lợi cho các cơ quan nhà nước mà chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp.
Theo các hiệp hội, việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện của các bộ hiện nay vẫn còn chậm, chưa đáp ứng thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp. Nhiều bộ chậm giải quyết khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát chưa hiệu quả dẫn đến tham nhũng và lãng phí. Chế tài, mức xử phạt chưa cụ thể, khung áp dụng rộng dễ gây ra tình trạng thiếu thống nhất trong thực tế.
Bên cạnh đó, các Bộ vẫn chưa có hướng dẫn kịp thời để bảo đảm việc áp dụng đồng bộ, thống nhất pháp luật tại các địa phương.
Thành lập doanh nghiệp dễ, xin đất khó
Một điểm đáng chú ý trong báo cáo đánh giá LDEA là nghiên cứu đề cập đến chất lượng văn bản quy phạm pháp luật thuộc 27 lĩnh vực liên quan nhất đến doanh nghiệp dựa trên phân ngành kinh tế quốc dân.
Kết quả cho thấy có sự phân biệt khá lớn giữa lĩnh vực có điểm số cao nhất. Trong khi thành lập doanh nghiệp được cho là đã thông thoáng hơn với cơ chế một cửa vận hành khá trơn chu, lĩnh vực đất đai được xem là có nhiều vướng mắc nhất, liên quan đến xây dựng và thực thi pháp luật.
Ở nhóm điểm khá gồm có thành lập, hoạt động, giải thể doanh nghiệp (6,49 điểm), sở hữu trí tuệ (6,48 điểm), kế toán, kiểm toán (6,47 điểm)…Các lĩnh vực có điểm số thấp nhất là đấu thầu (4,7 điểm), giao thông vận tải (4,54 điểm), thuế phí lệ phí (4,44 điểm), xây dựng bất động sản (4,11 điểm), đất đai (4,06 điểm).
Khu vực điểm số trung bình đáng chú ý có ngân hàng (5,76 điểm), công nghiệp (5,72 điểm), cạnh tranh (5,64 điểm), xuất nhập khẩu (5,6 điểm), bảo hiểm (5,34 điểm), hải quan (5,27 điểm), đầu tư (5,27 điểm), chứng khoán (5,26 điểm)…
Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh Nguyễn Phương Bắc cho rằng, những bộ có điểm số thấp không hẳn cán bộ ở đó không có năng lực, kém cởi mở, hay lĩnh vực họ phụ trách chậm chuyển biến mà còn do sự phức tạp của từng vấn đề khác nhau.
Nhiều đại biểu đồng tình rằng với kết quả này, dù rằng còn nhiều vấn đề bàn cãi song cũng đủ làm cơ sở cho các bộ trưởng “soi” vào hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật của ngành mình.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)