Nguồn: caicachhanhchinh.gov.vn
Cơ quạn hành chính nhà nước
- Là một bộ phận của hệ thống cơ quan nhà nước--->thực hiện quyền hành pháp, bao gồm chức năng lập quy và chức năng hành chính
- Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức trên cơ sở những nguyên tắc do luật định (có văn bản quy định về thành lập ra nó)
Đơn vị sự nghiệp
- Là một bộ phấn cấu thành cơ cấu tổ chức của các cơ quan hành chính nhà nước.
- Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, có tư cách pháp nhân, có tài khoản, con dấu riêng, thực hiện chức năng phục vụ quản lý nhà nước hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật. Ví dụ các đơn vị nghiên cứu, sự nghiệp (nghiên cứu khoa học kỹ thuật và giáo dục (bệnh viện, trường, viện nghiên cứu)… Đối với các cơ quan quản lý các ngành sự nghiệp, những tổ chức này là những đơn vị cơ bản thực hiện nhiệm vụ của ngành.
- Cơ chế tài chính của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công là cơ bản giống nhau, về kinh phí hành chính trong quá trình thực thi nhiệm vụ, về biên chế và tổ chức hoạt động, trong khi các đơn vị sự nghiệp công lập lại có những đặc điểm khác biệt với các cơ quan hành chính --> vấn đề cải cách tách chức năng quản lý nhà nước của cơ quan hành chính với cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp.
- Đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công từ trước đến nay vẫn có cùng chế độ như nhau về tiền lương, tiền thưởng và các chế độ đãi ngộ khác, điều này không đúng với thực tế tình hình của cơ quan hành chính với đơn vị sự nghiệp công lập
- Vấn đề tách cơ quan hành chính nhà nước với đơn vị sự nghiệp công để đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của những cơ quan này, tách đơn vị sự nghiệp ở đây được hiểu là các đơn vị sự nghiệp công
Thứ Năm, 11 tháng 3, 2010
LUẬT QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC
LUẬT QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC
- Phạm vi điều chỉnh: quy định chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
- Tài sản nhà nước: bao gồm trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất; quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác do pháp luật quy định.
- Điều 16. Sử dụng tài sản nhà nước
1. Tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước phải được sử dụng đúng mục đích, công năng, tiêu chuẩn, định mức, chế độ và bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm.
2. Cơ quan nhà nước không được sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích cá nhân, cho thuê hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh khác.
Nghị định 52/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
- Điều 62. Tài sản nhà nước được cho cơ quan, tổ chức, đơn vị khác sử dụng chung
1. Tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chưa sử dụng hết công suất được cho cơ quan, tổ chức, đơn vị khác sử dụng chung gồm:
a) Hội trường, phòng họp;
b) Ô tô, tàu, thuyền và các phương tiện vận tải khác.
2. Thủ trưởng cơ quan, tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc cho cơ quan, tổ chức, đơn vị khác sử dụng chung tài sản.
Điều 63. Đối tượng được sử dụng chung tài sản nhà nước
Cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng chung tài sản nhà nước quy định tại Điều 62 Nghị định này gồm:
1. Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân;
2. Đơn vị sự nghiệp công lập;
3. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
Điều 64. Chi phí sử dụng chung tài sản nhà nước
1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị khi được sử dụng chung tài sản nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 62 Nghị định này phải trả cho cơ quan, tổ chức có tài sản một khoản kinh phí để bù đắp chi phí điện, nước, xăng dầu, nhân công phục vụ và các chi phí khác có liên quan nhưng không bao gồm khấu hao tài sản cố định.
2. Tiền chi trả chi phí điện, nước, xăng dầu, nhân công phục vụ và các chi phí khác có liên quan được sử dụng từ nguồn kinh phí do Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng chung tài sản của cơ quan, tổ chức khác.
3. Cơ quan, tổ chức có tài sản phải hạch toán riêng các khoản thu và các khoản chi liên quan tới việc cho sử dụng chung tài sản nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính.
Thông tư 245/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định thực hiện một số nội dung của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/06/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
- Điều 37. Các khoản thu
1. Cơ quan, tổ chức có tài sản nhà nước cho sử dụng chung được quy định tại điều 62 Nghị định số 52/2009/NĐ-CP được thu các khoản chi phí điện nước, xăng dầu, nhân công phục vụ và các chi phí khác có liên quan đến việc sử dụng chung tài sản.
2. Cơ quan, tổ chức có tài sản cho sử dụng chung và cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng chung thỏa thuận mức thu trên cơ sở định mức tiêu hao, thời gian sử dụng tài sản hợp lý nhưng không bao gồm khấu hao (hao mòn) tài sản cố định.
- Điều 38. Hạch toán các khoản thu, chi
1. Cơ quan, tổ chức có tài sản cho sử dụng chung hạch toán các khoản thu quy định tại điều 37 Thông tư này vào mục thu tiền cho thuê tài sản nhà nước của mục lục ngân sách nhà nước và được sử dụng để chi cho hoạt động của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính có tài sản nhà nước cho sử dụng chung hạch toán các khoản thu quy định tại điều 37 Thông tư này là một khoản thu dịch vụ và được sử dụng theo quy định của pháp luật.
- Phạm vi điều chỉnh: quy định chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
- Tài sản nhà nước: bao gồm trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất; quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác do pháp luật quy định.
- Điều 16. Sử dụng tài sản nhà nước
1. Tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước phải được sử dụng đúng mục đích, công năng, tiêu chuẩn, định mức, chế độ và bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm.
2. Cơ quan nhà nước không được sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích cá nhân, cho thuê hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh khác.
Nghị định 52/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
- Điều 62. Tài sản nhà nước được cho cơ quan, tổ chức, đơn vị khác sử dụng chung
1. Tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chưa sử dụng hết công suất được cho cơ quan, tổ chức, đơn vị khác sử dụng chung gồm:
a) Hội trường, phòng họp;
b) Ô tô, tàu, thuyền và các phương tiện vận tải khác.
2. Thủ trưởng cơ quan, tổ chức được giao quản lý, sử dụng tài sản quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc cho cơ quan, tổ chức, đơn vị khác sử dụng chung tài sản.
Điều 63. Đối tượng được sử dụng chung tài sản nhà nước
Cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng chung tài sản nhà nước quy định tại Điều 62 Nghị định này gồm:
1. Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân;
2. Đơn vị sự nghiệp công lập;
3. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
Điều 64. Chi phí sử dụng chung tài sản nhà nước
1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị khi được sử dụng chung tài sản nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 62 Nghị định này phải trả cho cơ quan, tổ chức có tài sản một khoản kinh phí để bù đắp chi phí điện, nước, xăng dầu, nhân công phục vụ và các chi phí khác có liên quan nhưng không bao gồm khấu hao tài sản cố định.
2. Tiền chi trả chi phí điện, nước, xăng dầu, nhân công phục vụ và các chi phí khác có liên quan được sử dụng từ nguồn kinh phí do Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng chung tài sản của cơ quan, tổ chức khác.
3. Cơ quan, tổ chức có tài sản phải hạch toán riêng các khoản thu và các khoản chi liên quan tới việc cho sử dụng chung tài sản nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính.
Thông tư 245/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định thực hiện một số nội dung của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/06/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
- Điều 37. Các khoản thu
1. Cơ quan, tổ chức có tài sản nhà nước cho sử dụng chung được quy định tại điều 62 Nghị định số 52/2009/NĐ-CP được thu các khoản chi phí điện nước, xăng dầu, nhân công phục vụ và các chi phí khác có liên quan đến việc sử dụng chung tài sản.
2. Cơ quan, tổ chức có tài sản cho sử dụng chung và cơ quan, tổ chức, đơn vị được sử dụng chung thỏa thuận mức thu trên cơ sở định mức tiêu hao, thời gian sử dụng tài sản hợp lý nhưng không bao gồm khấu hao (hao mòn) tài sản cố định.
- Điều 38. Hạch toán các khoản thu, chi
1. Cơ quan, tổ chức có tài sản cho sử dụng chung hạch toán các khoản thu quy định tại điều 37 Thông tư này vào mục thu tiền cho thuê tài sản nhà nước của mục lục ngân sách nhà nước và được sử dụng để chi cho hoạt động của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính có tài sản nhà nước cho sử dụng chung hạch toán các khoản thu quy định tại điều 37 Thông tư này là một khoản thu dịch vụ và được sử dụng theo quy định của pháp luật.
Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 29 tháng 11 năm 2005
- Điều chỉnh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên. Điều chỉnh luôn việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân
- Điều 18. Quản lý, sử dụng khoản hoa hồng
1. Người được cơ quan, tổ chức giao mua sắm phương tiện đi lại, phương tiện, thiết bị làm việc, tài sản khác hoặc thanh toán dịch vụ nếu có khoản hoa hồng thì phải kê khai, nộp lại cơ quan, tổ chức để quản lý, sử dụng cho hoạt động của cơ quan, tổ chức đó. Việc quản lý, sử dụng khoản hoa hồng từ mua sắm tài sản, thanh toán dịch vụ phải công khai, minh bạch. Nghiêm cấm giữ lại khoản hoa hồng để sử dụng sai mục đích.
2. Người nào vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản hoa hồng đã nhận và bị xử lý kỷ luật.
- Điều 35. Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc
2. Cơ quan, tổ chức được giao quản lý, sử dụng trụ sở làm việc và các công trình kiến trúc khác gắn liền với diện tích đất thuộc trụ sở làm việc phải quản lý, sử dụng theo đúng mục đích, đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả.
Nghị định 103/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
- Phạm vi điều chỉnh: quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; khen thưởng và xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Đối tượng áp dụng: áp dụng đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức, người làm hợp đồng lao động trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực có sử dụng ngân sách nhà nước.
- Điều 11. Trách nhiệm trong quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ được giao đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả;
Quyết định 59/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước
- Điều 2: Nguyên tắc trang bị, bố trí, sử dụng xe ôtô phục vụ công tác.
1. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và công ty nhà nước căn cứ vào tiêu chuẩn định mức quy định tại Quy định này để bố trí xe ôtô phục vụ các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô.
- Điều 8: Các chức danh được sử dụng xe ôtô phục vụ công tác.
1. Ở Trung ương: cán bộ lãnh đạo cấp Tổng cục, Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ và cán bộ lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,7 đến dưới 1,25 của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
2. Ở địa phương:
a) Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách, Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Tỉnh uỷ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
b) Cán bộ cấp Trưởng, Phó các Sở, Ban, ngành và tương đương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); Bí thư, Phó Bí thư huyện uỷ, thị uỷ, quận uỷ (gọi chung là cấp huyện); Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp huyện; Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,7 đến dưới 1,25.
3. Các chức danh quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này chỉ được bố trí xe ôtô khi đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 15 km trở lên; đối với các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn được bố trí xe ôtô khi đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 10 km trở lên (không bố trí xe đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc). Trường hợp đối tượng tự túc phương tiện thì được khoán kinh phí theo quy định tại Điều 15 Quyết định này.
4. Trường hợp do yêu cầu khẩn cấp hoặc do yêu cầu đặc biệt phục vụ công tác, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định việc bố trí xe ôtô của cơ quan , đơn vị hoặc thuê dịch vụ xe ôtô cho các chức danh không có tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô.
Quyết định 184/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 59/2007/QĐ-TTg ngày 07/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ
Khoản 3 Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“3. Căn cứ vào điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông và khả năng cung cấp dịch vụ phương tiện đi lại của thị trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quy định khoảng cách cụ thể từ trụ sở cơ quan khi đi công tác được bố trí xe ô tô cho các chức danh quy định tại khoản 1; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định đối với các chức danh tại khoản 2 Điều này sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Trường hợp đối tượng tự túc phương tiện thì được khoán kinh phí theo quy định”.
- Điều chỉnh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên. Điều chỉnh luôn việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân
- Điều 18. Quản lý, sử dụng khoản hoa hồng
1. Người được cơ quan, tổ chức giao mua sắm phương tiện đi lại, phương tiện, thiết bị làm việc, tài sản khác hoặc thanh toán dịch vụ nếu có khoản hoa hồng thì phải kê khai, nộp lại cơ quan, tổ chức để quản lý, sử dụng cho hoạt động của cơ quan, tổ chức đó. Việc quản lý, sử dụng khoản hoa hồng từ mua sắm tài sản, thanh toán dịch vụ phải công khai, minh bạch. Nghiêm cấm giữ lại khoản hoa hồng để sử dụng sai mục đích.
2. Người nào vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này thì phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản hoa hồng đã nhận và bị xử lý kỷ luật.
- Điều 35. Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc
2. Cơ quan, tổ chức được giao quản lý, sử dụng trụ sở làm việc và các công trình kiến trúc khác gắn liền với diện tích đất thuộc trụ sở làm việc phải quản lý, sử dụng theo đúng mục đích, đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả.
Nghị định 103/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
- Phạm vi điều chỉnh: quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; khen thưởng và xử lý kỷ luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Đối tượng áp dụng: áp dụng đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức, người làm hợp đồng lao động trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc khu vực có sử dụng ngân sách nhà nước.
- Điều 11. Trách nhiệm trong quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ được giao đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả;
Quyết định 59/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước
- Điều 2: Nguyên tắc trang bị, bố trí, sử dụng xe ôtô phục vụ công tác.
1. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và công ty nhà nước căn cứ vào tiêu chuẩn định mức quy định tại Quy định này để bố trí xe ôtô phục vụ các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô.
- Điều 8: Các chức danh được sử dụng xe ôtô phục vụ công tác.
1. Ở Trung ương: cán bộ lãnh đạo cấp Tổng cục, Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ và cán bộ lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,7 đến dưới 1,25 của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.
2. Ở địa phương:
a) Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách, Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ, Tỉnh uỷ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
b) Cán bộ cấp Trưởng, Phó các Sở, Ban, ngành và tương đương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); Bí thư, Phó Bí thư huyện uỷ, thị uỷ, quận uỷ (gọi chung là cấp huyện); Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp huyện; Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,7 đến dưới 1,25.
3. Các chức danh quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này chỉ được bố trí xe ôtô khi đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 15 km trở lên; đối với các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn được bố trí xe ôtô khi đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 10 km trở lên (không bố trí xe đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc). Trường hợp đối tượng tự túc phương tiện thì được khoán kinh phí theo quy định tại Điều 15 Quyết định này.
4. Trường hợp do yêu cầu khẩn cấp hoặc do yêu cầu đặc biệt phục vụ công tác, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quyết định việc bố trí xe ôtô của cơ quan , đơn vị hoặc thuê dịch vụ xe ôtô cho các chức danh không có tiêu chuẩn sử dụng xe ôtô.
Quyết định 184/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý sử dụng phương tiện đi lại trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 59/2007/QĐ-TTg ngày 07/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ
Khoản 3 Điều 8 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“3. Căn cứ vào điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông và khả năng cung cấp dịch vụ phương tiện đi lại của thị trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quy định khoảng cách cụ thể từ trụ sở cơ quan khi đi công tác được bố trí xe ô tô cho các chức danh quy định tại khoản 1; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định đối với các chức danh tại khoản 2 Điều này sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Trường hợp đối tượng tự túc phương tiện thì được khoán kinh phí theo quy định”.
Thứ Tư, 10 tháng 3, 2010
Cần đảm bảo sự minh bạch và khả thi
Luật gia Vũ Xuân Tiền (*)
Thứ Tư, 3/3/2010, 16:46 (GMT+7)
Cần đảm bảo sự minh bạch và khả thi
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/30331/
Luật gia Vũ Xuân Tiền (*)
(TBKTSG) - Tháng 12-2009, Bộ Tài chính đã hoàn thành Dự thảo Luật Kiểm toán độc lập (KTĐL) và có tờ trình Chính phủ về đạo luật quan trọng này. Có thể nói, nghiên cứu để ban hành Luật KTĐL là bước chuẩn bị quan trọng để nền kinh tế nước ta trở thành nền kinh tế thị trường ở trình độ cao hơn.
Cần thiết và cấp bách
Trong giai đoạn hiện nay, ban hành Luật KTĐL là cần thiết và cấp bách. Cần thiết vì sau 18 năm có mặt tại thị trường Việt Nam, KTĐL đã có sự phát triển nhất định về số lượng, quy mô, năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ. Song, nhìn thẳng vào sự thật có thể thấy, KTĐL đã và đang bộc lộ những hạn chế lớn.
Những hạn chế đó là: quy mô của thị trường KTĐL còn nhỏ, số lượng kiểm toán viên còn ít, chưa tương xứng với tiềm năng và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; chất lượng đội ngũ kiểm toán viên và chất lượng dịch vụ kiểm toán chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế; sự phối hợp quản lý nhà nước với tổ chức nghề nghiệp kiểm toán viên hành nghề chưa phát huy kết quả thiết thực; tình trạng vi phạm đạo đức hành nghề còn xảy ra không ít...
Là cấp bách bởi vì, 18 năm qua, trong khi rất nhiều lĩnh vực đã được điều chỉnh bằng luật như doanh nghiệp, đầu tư, kinh doanh bất động sản, kế toán, chứng khoán... thì hoạt động KTĐL vẫn chỉ được điều chỉnh bằng nghị định của Chính phủ. Điều đó tạo ra sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật về quản lý kinh tế, chưa tương xứng với vai trò, vị trí của KTĐL trong kinh tế thị trường.
Hơn nữa, mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế nhiều lần nhưng nghị định về KTĐL vẫn chưa toàn diện, chẳng hạn, nghị định chưa quy định đầy đủ các nội dung cần thiết để tăng cường chất lượng dịch vụ KTĐL; quy định chưa rõ về nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán khi gây ra thiệt hại cho khách hàng và công chúng; chưa có quy định đầy đủ và chặt chẽ đối với KTĐL có yếu tố nước ngoài; đối tượng phải thực hiện kiểm toán bắt buộc còn quá hẹp...
Những vấn đề cần nghiên cứu, trao đổi
Dự thảo luật đã được nghiên cứu với thời gian không ngắn và bao quát hầu hết các nội dung về KTĐL và có liên quan đến KTĐL. Tuy nhiên, để đảm bảo sự minh bạch và tính khả thi của Luật KTĐL, có những vấn đề sau cần được nghiên cứu, trao đổi kỹ hơn.
Một là, luật do Quốc hội ban hành, quy định chi tiết thi hành luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Song, có rất nhiều vấn đề, dự thảo luật lại quy định trực tiếp đến Bộ Tài chính. Cụm từ “Bộ Tài chính có trách nhiệm...”, “theo quy định của Bộ Tài chính...” xuất hiện tới 24 lần trong dự thảo luật. Điều đó có mâu thuẫn với Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật? Phải chăng, đó cũng là cách “lách luật” để các thông tư ra đời và ít bị kiểm soát hơn?
Hai là, điều 6 dự thảo luật quy định một trong những giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán là “cơ quan nhà nước và đơn vị cấp trên sử dụng cho quản lý, điều hành theo chức năng, nhiệm vụ được giao”. Câu hỏi được đặt ra là, có chế tài nào để quy định nêu trên được thực hiện?
Thực tế cho thấy, rất ít cơ quan quản lý nhà nước sử dụng báo cáo kiểm toán của KTĐL trong quản lý, điều hành. Chẳng hạn, cơ quan thuế gần như không sử dụng báo cáo kiểm toán để xác nhận các doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước mặc dù, báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính do KTĐL phát hành xác nhận sự trung thực, đúng pháp luật của báo cáo tài chính do doanh nhiệp lập.
Ba là, trong dự thảo luật có rất nhiều điều, khoản phải dẫn chiếu tới một hoặc một số điều, khoản khác có liên quan. Đáng tiếc là, hầu hết các điều, khoản được dẫn chiếu lại không đúng. Ví dụ, khoản 2 điều 8 quy định: “Doanh nghiệp, tổ chức bắt buộc phải kiểm toán quy định tại khoản 1, 2, 3 điều 54 của luật này”, nhưng điều 54 lại quy định về các loại báo cáo kiểm toán.
Sai sót tương tự như vậy xảy ra ở nhiều nơi khác trong dự thảo. Đặc biệt, khoản 8 điều 19 dẫn chiếu “điều 94 của luật này” nhưng toàn bộ văn bản dự thảo luật lại chỉ có 85 điều! Sai sót nêu trên chứng tỏ sự thiếu nghiêm túc, nếu không nói là cẩu thả của ban soạn thảo. Một dự thảo luật với những sai sót không đáng có như vậy mà vẫn được gửi đi xin ý kiến cũng chứng tỏ người được xin ý kiến góp ý chưa thật sự được tôn trọng.
Về nội dung, dự thảo luật với 8 chương và 85 điều khoản và có tới 18 vấn đề cần nghiên cứu, trao đổi thêm. Song, bảy vấn đề sau đây có vị trí quan trọng hơn cả.
1. Điều 9 dự thảo luật quy định về “khuyến khích kiểm toán”. Điều khoản này không cần thiết vì văn bản luật chỉ quy định những vấn đề được làm, không được làm, phải làm và không phải làm. Hơn nữa, nếu quy định là “khuyến khích kiểm toán” thì phải có các chính sách khuyến khích cụ thể đối với từng trường hợp. Nếu chỉ quy định như nội dung của điều 9 dự thảo luật là vô nghĩa. Đề nghị sửa lại là Kiểm toán tự nguyện.
2. Điều 24 dự thảo luật quy định: “Bộ Tài chính cấp, đình chỉ, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp kiểm toán (DNKT). Giấy phép này đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. Quy định như trên là Luật KTĐL lại triệt tiêu một nội dung quan trọng nhất của Luật Doanh nghiệp, xác lập trở lại cơ chế “xin - cho” trong thành lập doanh nghiệp. Để đảm bảo sự minh bạch trong quản lý các doanh nghiệp, Bộ Tài chính chỉ cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sau khi DNKT nhận được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
3. Điều 23 dự thảo luật quy định: “DNKT được thành lập và hoạt động theo các hình thức: công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên; công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân”. Quy định DNKT không được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần là không thỏa đáng. Bởi lẽ, công ty cổ phần và công ty TNHH cũng chỉ chịu trách nhiệm về tài sản và các khoản nợ của doanh nghiệp giới hạn trong phạm vi vốn điều lệ. Việc chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần và chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH cũng bị những ràng buộc như nhau.
4. Tiết c khoản 1 điều 25 dự thảo luật quy định một trong những điều kiện để thành lập DNKT là “có ít nhất năm người có chứng chỉ kiểm toán viên bao gồm cả giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và chủ tịch hội đồng thành viên”. Quy định cả giám đốc và chủ tịch hội đồng thành viên phải có chứng chỉ kiểm toán viên là quá chặt, thiếu tính khả thi trong giai đoạn hiện nay và không cần thiết. Trong hai chức danh trên, chỉ người là người đại diện theo pháp luật phải có chứng chỉ kiểm toán viên là đủ.
5. Khoản 4 điều 35 dự thảo luật quy định một trong những nghĩa vụ của DNKT là “bồi thường thiệt hại do lỗi mà kiểm toán viên hành nghề hoặc người của tổ chức mình gây ra cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán...”. Quy định nêu trên chưa đầy đủ vì báo cáo kiểm toán được nhiều đối tượng sử dụng, không chỉ có khách hàng, đơn vị được kiểm toán. Vì vậy, đề nghị sửa lại là: “Bồi thường thiệt hại do lỗi mà kiểm toán viên hành nghề hoặc người của tổ chức mình gây ra cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán và những người đã sử dụng Báo cáo kiểm toán do tổ chức mình phát hành để quyết định đầu tư, mua chứng khoán...”.
Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng nhằm ngăn chặn những hành vi thông đồng giữa DNKT với các doanh nghiệp khách hàng, cung cấp thông tin sai sự thật gây thiệt hại cho người sử dụng báo cáo kiểm toán như đã xảy ra trong nhiều trường hợp trên thế giới và ở nước ta trong thời gian vừa qua.
6. Điều 48 dự thảo luật quy định về phạm vi hành nghề của DNKT. Chúng tôi cho rằng, quy định như dự thảo luật là không cần thiết. Với tên gọi Luật KTĐL, điều khoản này chỉ nên quy định về dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác mà DNKT không được làm vì đó là “các dịch vụ có ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên và DNKT”. Chẳng hạn, cần quy định DNKT không được làm ít nhất hai dịch vụ là tư vấn thuế và dịch vụ kế toán để tránh tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi.
7. Điều 57 dự thảo luật quy định về các loại ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính. Đề nghị quy định cụ thể hơn về giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán khi kiểm toán viên chấp nhận toàn phần, chấp nhận từng phần, từ chối và không chấp nhận để ngăn chặn tình trạng phát hành báo cáo kiểm toán với quá nhiều nội dung “ngoại trừ”, có thể gây nhầm lẫn và thiệt hại cho người sử dụng.
______________________________________
Thứ Tư, 3/3/2010, 16:46 (GMT+7)
Cần đảm bảo sự minh bạch và khả thi
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/30331/
Luật gia Vũ Xuân Tiền (*)
(TBKTSG) - Tháng 12-2009, Bộ Tài chính đã hoàn thành Dự thảo Luật Kiểm toán độc lập (KTĐL) và có tờ trình Chính phủ về đạo luật quan trọng này. Có thể nói, nghiên cứu để ban hành Luật KTĐL là bước chuẩn bị quan trọng để nền kinh tế nước ta trở thành nền kinh tế thị trường ở trình độ cao hơn.
Cần thiết và cấp bách
Trong giai đoạn hiện nay, ban hành Luật KTĐL là cần thiết và cấp bách. Cần thiết vì sau 18 năm có mặt tại thị trường Việt Nam, KTĐL đã có sự phát triển nhất định về số lượng, quy mô, năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ. Song, nhìn thẳng vào sự thật có thể thấy, KTĐL đã và đang bộc lộ những hạn chế lớn.
Những hạn chế đó là: quy mô của thị trường KTĐL còn nhỏ, số lượng kiểm toán viên còn ít, chưa tương xứng với tiềm năng và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; chất lượng đội ngũ kiểm toán viên và chất lượng dịch vụ kiểm toán chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế; sự phối hợp quản lý nhà nước với tổ chức nghề nghiệp kiểm toán viên hành nghề chưa phát huy kết quả thiết thực; tình trạng vi phạm đạo đức hành nghề còn xảy ra không ít...
Là cấp bách bởi vì, 18 năm qua, trong khi rất nhiều lĩnh vực đã được điều chỉnh bằng luật như doanh nghiệp, đầu tư, kinh doanh bất động sản, kế toán, chứng khoán... thì hoạt động KTĐL vẫn chỉ được điều chỉnh bằng nghị định của Chính phủ. Điều đó tạo ra sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật về quản lý kinh tế, chưa tương xứng với vai trò, vị trí của KTĐL trong kinh tế thị trường.
Hơn nữa, mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế nhiều lần nhưng nghị định về KTĐL vẫn chưa toàn diện, chẳng hạn, nghị định chưa quy định đầy đủ các nội dung cần thiết để tăng cường chất lượng dịch vụ KTĐL; quy định chưa rõ về nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán khi gây ra thiệt hại cho khách hàng và công chúng; chưa có quy định đầy đủ và chặt chẽ đối với KTĐL có yếu tố nước ngoài; đối tượng phải thực hiện kiểm toán bắt buộc còn quá hẹp...
Những vấn đề cần nghiên cứu, trao đổi
Dự thảo luật đã được nghiên cứu với thời gian không ngắn và bao quát hầu hết các nội dung về KTĐL và có liên quan đến KTĐL. Tuy nhiên, để đảm bảo sự minh bạch và tính khả thi của Luật KTĐL, có những vấn đề sau cần được nghiên cứu, trao đổi kỹ hơn.
Một là, luật do Quốc hội ban hành, quy định chi tiết thi hành luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Song, có rất nhiều vấn đề, dự thảo luật lại quy định trực tiếp đến Bộ Tài chính. Cụm từ “Bộ Tài chính có trách nhiệm...”, “theo quy định của Bộ Tài chính...” xuất hiện tới 24 lần trong dự thảo luật. Điều đó có mâu thuẫn với Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật? Phải chăng, đó cũng là cách “lách luật” để các thông tư ra đời và ít bị kiểm soát hơn?
Hai là, điều 6 dự thảo luật quy định một trong những giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán là “cơ quan nhà nước và đơn vị cấp trên sử dụng cho quản lý, điều hành theo chức năng, nhiệm vụ được giao”. Câu hỏi được đặt ra là, có chế tài nào để quy định nêu trên được thực hiện?
Thực tế cho thấy, rất ít cơ quan quản lý nhà nước sử dụng báo cáo kiểm toán của KTĐL trong quản lý, điều hành. Chẳng hạn, cơ quan thuế gần như không sử dụng báo cáo kiểm toán để xác nhận các doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước mặc dù, báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính do KTĐL phát hành xác nhận sự trung thực, đúng pháp luật của báo cáo tài chính do doanh nhiệp lập.
Ba là, trong dự thảo luật có rất nhiều điều, khoản phải dẫn chiếu tới một hoặc một số điều, khoản khác có liên quan. Đáng tiếc là, hầu hết các điều, khoản được dẫn chiếu lại không đúng. Ví dụ, khoản 2 điều 8 quy định: “Doanh nghiệp, tổ chức bắt buộc phải kiểm toán quy định tại khoản 1, 2, 3 điều 54 của luật này”, nhưng điều 54 lại quy định về các loại báo cáo kiểm toán.
Sai sót tương tự như vậy xảy ra ở nhiều nơi khác trong dự thảo. Đặc biệt, khoản 8 điều 19 dẫn chiếu “điều 94 của luật này” nhưng toàn bộ văn bản dự thảo luật lại chỉ có 85 điều! Sai sót nêu trên chứng tỏ sự thiếu nghiêm túc, nếu không nói là cẩu thả của ban soạn thảo. Một dự thảo luật với những sai sót không đáng có như vậy mà vẫn được gửi đi xin ý kiến cũng chứng tỏ người được xin ý kiến góp ý chưa thật sự được tôn trọng.
Về nội dung, dự thảo luật với 8 chương và 85 điều khoản và có tới 18 vấn đề cần nghiên cứu, trao đổi thêm. Song, bảy vấn đề sau đây có vị trí quan trọng hơn cả.
1. Điều 9 dự thảo luật quy định về “khuyến khích kiểm toán”. Điều khoản này không cần thiết vì văn bản luật chỉ quy định những vấn đề được làm, không được làm, phải làm và không phải làm. Hơn nữa, nếu quy định là “khuyến khích kiểm toán” thì phải có các chính sách khuyến khích cụ thể đối với từng trường hợp. Nếu chỉ quy định như nội dung của điều 9 dự thảo luật là vô nghĩa. Đề nghị sửa lại là Kiểm toán tự nguyện.
2. Điều 24 dự thảo luật quy định: “Bộ Tài chính cấp, đình chỉ, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp kiểm toán (DNKT). Giấy phép này đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. Quy định như trên là Luật KTĐL lại triệt tiêu một nội dung quan trọng nhất của Luật Doanh nghiệp, xác lập trở lại cơ chế “xin - cho” trong thành lập doanh nghiệp. Để đảm bảo sự minh bạch trong quản lý các doanh nghiệp, Bộ Tài chính chỉ cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh sau khi DNKT nhận được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
3. Điều 23 dự thảo luật quy định: “DNKT được thành lập và hoạt động theo các hình thức: công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên; công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân”. Quy định DNKT không được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần là không thỏa đáng. Bởi lẽ, công ty cổ phần và công ty TNHH cũng chỉ chịu trách nhiệm về tài sản và các khoản nợ của doanh nghiệp giới hạn trong phạm vi vốn điều lệ. Việc chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần và chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH cũng bị những ràng buộc như nhau.
4. Tiết c khoản 1 điều 25 dự thảo luật quy định một trong những điều kiện để thành lập DNKT là “có ít nhất năm người có chứng chỉ kiểm toán viên bao gồm cả giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và chủ tịch hội đồng thành viên”. Quy định cả giám đốc và chủ tịch hội đồng thành viên phải có chứng chỉ kiểm toán viên là quá chặt, thiếu tính khả thi trong giai đoạn hiện nay và không cần thiết. Trong hai chức danh trên, chỉ người là người đại diện theo pháp luật phải có chứng chỉ kiểm toán viên là đủ.
5. Khoản 4 điều 35 dự thảo luật quy định một trong những nghĩa vụ của DNKT là “bồi thường thiệt hại do lỗi mà kiểm toán viên hành nghề hoặc người của tổ chức mình gây ra cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán...”. Quy định nêu trên chưa đầy đủ vì báo cáo kiểm toán được nhiều đối tượng sử dụng, không chỉ có khách hàng, đơn vị được kiểm toán. Vì vậy, đề nghị sửa lại là: “Bồi thường thiệt hại do lỗi mà kiểm toán viên hành nghề hoặc người của tổ chức mình gây ra cho khách hàng, đơn vị được kiểm toán và những người đã sử dụng Báo cáo kiểm toán do tổ chức mình phát hành để quyết định đầu tư, mua chứng khoán...”.
Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng nhằm ngăn chặn những hành vi thông đồng giữa DNKT với các doanh nghiệp khách hàng, cung cấp thông tin sai sự thật gây thiệt hại cho người sử dụng báo cáo kiểm toán như đã xảy ra trong nhiều trường hợp trên thế giới và ở nước ta trong thời gian vừa qua.
6. Điều 48 dự thảo luật quy định về phạm vi hành nghề của DNKT. Chúng tôi cho rằng, quy định như dự thảo luật là không cần thiết. Với tên gọi Luật KTĐL, điều khoản này chỉ nên quy định về dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác mà DNKT không được làm vì đó là “các dịch vụ có ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán viên và DNKT”. Chẳng hạn, cần quy định DNKT không được làm ít nhất hai dịch vụ là tư vấn thuế và dịch vụ kế toán để tránh tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi.
7. Điều 57 dự thảo luật quy định về các loại ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính. Đề nghị quy định cụ thể hơn về giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán khi kiểm toán viên chấp nhận toàn phần, chấp nhận từng phần, từ chối và không chấp nhận để ngăn chặn tình trạng phát hành báo cáo kiểm toán với quá nhiều nội dung “ngoại trừ”, có thể gây nhầm lẫn và thiệt hại cho người sử dụng.
______________________________________
Tăng năng suất bằng các công cụ quản lý
http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/quantri/30747/
Tăng năng suất bằng các công cụ quản lý
Phi Tuấn
Thứ Tư, 10/3/2010, 11:39 (GMT+7)
Công nhân Công ty May Đại Việt tại nhà máy ở quận Tân Phú, TPHCM. Sau khi áp dụng phương pháp quản lý sản xuất tinh gọn - LEAN, công ty đã giảm được 61% khối lượng hàng tồn trên chuyền may. Ảnh: Lê Toàn.
(TBKTSG) - Đầu tư đổi mới công nghệ là một trong những giải pháp để tăng năng suất, chất lượng, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện thực hiện. Tuy nhiên, việc đầu tư ứng dụng các phương pháp quản lý như LEAN, 6-Sigma, 5S… để tăng năng suất, chất lượng lại nằm trong tầm tay doanh nghiệp.
Kinh nghiệm để thành công
Trở về từ chuyến đi nhận Giải chất lượng châu Á-Thái Bình Dương năm 2009 của Tổ chức Chất lượng châu Á-Thái Bình Dương (APQO), ông Nguyễn Lộc, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Dây cáp điện Việt Nam (CADIVI), cho biết bên cạnh đầu tư đổi mới công nghệ, thì việc sử dụng các công cụ quản lý như ISO, 5S (sàng lọc, sắp xếp, sạch sẽ, săn sóc, sẵn sàng), TQM (quản lý chất lượng đồng bộ) giúp giá trị sản xuất và doanh thu của công ty từ năm 2005 đến nay tăng trưởng gấp đôi, bình quân đạt trên 20%/năm. Lợi nhuận của công ty từ 8,6 tỉ đồng năm 2005 đã tăng lên 60 tỉ đồng năm 2009, doanh thu đạt 1.700 tỉ đồng, trong đó doanh thu từ xuất khẩu đạt hơn 7 triệu đô la Mỹ.
Điều khác biệt khi áp dụng các công cụ quản lý, theo ông Lộc, là hiệu quả kinh tế được đo lường và đánh giá một cách cụ thể, giảm thiểu các chi phí thừa, nhầm lẫn. Chính vì thế chỉ riêng trong sản xuất hàng năm giảm được 15-20% các chi phí ẩn, và trung bình, các công cụ kết hợp lại, giảm được khoảng 25% chi phí ẩn.
LEAN - sản xuất tinh gọn - cũng được các công ty áp dụng thành công. Bà Diệp Thị Hằng Nga, Phó giám đốc Công ty May Đại Việt, cho biết khi áp dụng LEAN, các công đoạn được phân công đâu vào đấy, ngăn nắp, sạch sẽ, khoa học, cộng thêm những sáng tạo từ chính công nhân đã đưa năng suất đối với sản phẩm may mặc của công ty tăng 8%, giảm bớt 61% khối lượng hàng tồn trên chuyền may.
Áp dụng các công cụ quản lý là một trong những cách tăng năng suất lao động, tiết giảm chi phí, thế nhưng điểm chung của doanh nghiệp khi áp dụng những công cụ này là gặp rất nhiều trở ngại từ phía nhân viên lẫn một sự cam kết thực hiện từ lãnh đạo doanh nghiệp. Nhiều khi những trở ngại này khiến không ít doanh nghiệp phải bỏ cuộc giữa chừng. Qua trao đổi, một số lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng điểm mấu chốt là phải có sự cam kết đồng lòng từ lãnh đạo đến nhân viên, phải kiên trì thực hiện, định kỳ đánh giá việc thực hiện để giải quyết những vướng mắc, phát huy tính sáng tạo của nhân viên.
Kinh nghiệm ở Công ty May Đại Việt khi áp dụng LEAN, là không cho công nhân biết LEAN là gì, mà từng bước triển khai và giải thích cho công nhân hiểu lợi ích tiết kiệm, tinh giản hoạt động… của công cụ này, từng bước thuyết phục công nhân bằng những thay đổi. Có lúc ban giám đốc cũng thấy nản, nhưng cuối cùng thì kết quả được đo bằng những lợi ích thiết thực.
“Ban đầu công nhân phản ứng dữ lắm. Trước đây họ được giao một bó nguyên liệu 60 ki lô gam, nay chúng tôi chia làm ba lần, mỗi lần 20 ki lô gam. Công nhân cho rằng ba lần hay một lần cũng thế. Nhưng trong thực tế có người may nhanh, có người may chậm, vì vậy việc sắp xếp lại sẽ tránh được tình trạng có người ôm hàng quá lâu trong khi một số khác không có hàng để làm. Sau một thời gian thấy hàng tồn trên chuyền may giảm rõ rệt, công nhân rất hưởng ứng”, bà Nga kể.
Còn ông Âu Hoàng Hà, Trưởng ban Chỉ đạo chương trình 5S của Công ty cổ phần In 7, cho rằng ý thức của mỗi người quyết định thành công của chương trình áp dụng những công cụ quản lý. Sau một thời gian, khi thấy rõ hiệu quả công việc, nhà xưởng sạch sẽ, mọi thứ được sắp xếp, sàng lọc, thì công nhân mới hiểu được ý nghĩa của việc mình làm.
Theo ông Lộc, khó khăn lớn nhất là ban lãnh đạo và nhân viên phải thông hiểu các mục tiêu và tầm nhìn của công ty, và phải đồng lòng quyết tâm thực hiện. Nhân viên thường cho rằng việc lãnh đạo công ty là của ban giám đốc, còn mình chỉ biết sản xuất, vì thế nếu không có một sự gắn bó, thông hiểu nhau, không có sự chia sẻ và đồng lòng về mục tiêu, thì sẽ không đạt được mục đích.
Ông Lộc kể: năm 1997, lần đầu tiên CADIVI áp dụng hệ thống ISO 9002. Ban giám đốc đã phổ biến và đi kiểm tra trực tiếp từng công nhân, đưa ra quy định nếu ai trải qua ba lần kiểm tra mà không thuộc, không nắm bắt được chính sách chất lượng và mục tiêu của công ty thì sẽ bị chuyển sang diện chờ việc. Chính vì thế tất cả nhân viên đều cố gắng, cùng đồng lòng thực hiện các quy trình và chỉ mất sáu tháng công ty đã đạt được chứng nhận ISO 9002. Từ đó công ty đã từng bước mở rộng áp dụng thêm các công cụ, tiêu chuẩn khác.
Vai trò của các chuyên gia tư vấn trong việc áp dụng các công cụ quản lý được doanh nghiệp đánh giá cao, nói như giám đốc một doanh nghiệp, họ chính là những người vạch lá tìm sâu, giúp chỉ ra những khiếm khuyết doanh nghiệp thường mắc phải, đưa ra những giải pháp khắc phục hay cải tiến để tăng năng suất, chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh, tiết giảm chi phí.
Ông Nguyễn Lộc cho biết để đáp ứng yêu cầu của đối tác, năm 2008 CADIVI đã đầu tư một hệ thống thiết bị kiểm tra sản phẩm trị giá khoảng 500.000 đô la Mỹ, và bỏ ra 20.000 đô la mời một cơ quan kiểm định của Mỹ sang đánh giá, cộng thêm chi phí mỗi mẫu kiểm tra là 5.000 đô la để các chuyên gia Mỹ tìm xem đâu là điểm yếu của công ty nhằm khắc phục và cải tiến.
Một trong những vấn đề lớn mà giới chuyên gia Mỹ tìm ra thời điểm đó là nếu lấy tổng giám đốc làm mục tiêu, thì những nhân viên càng ở xa càng trở nên thiếu hiểu biết về mục tiêu, tầm nhìn của công ty. CADIVI đã khắc phục bằng cách áp dụng phương cách quản lý theo quy trình, tức là người nào gần khách hàng hơn thì người đó có quyền quyết định.
Rào cản phải vượt qua
Các chuyên gia tư vấn đã chỉ ra rằng chi phí ẩn trong sản xuất kinh doanh là một con số khổng lồ, lên tới 20-25% ở các doanh nghiệp EU, 25-30% ở Mỹ.
GS.TS.Nguyễn Quang Toản, Chủ tịch Hội Chất lượng TPHCM, cho rằng chi phí ẩn ở doanh nghiệp Việt Nam là không dưới 40% doanh số, và đây chính là “tấm bia lớn” để các doanh nghiệp tấn công vào nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Việc chuyển dịch cơ cấu tài sản của doanh nghiệp hiện đang thay đổi, từ cơ cấu tài sản hữu hình chiếm 75% và tài sản vô hình là 25% trong thời đại công nghiệp sang cơ cấu 75% là tài sản vô hình và 25% là tài sản hữu hình trong thời đại tri thức, trong đó việc sử dụng các công cụ quản lý và các phương pháp sáng tạo đang là xu thế của thế giới.
Theo các chuyên gia tư vấn, dù các công cụ này đã được doanh nghiệp nước ngoài áp dụng từ lâu, thế nhưng các doanh nghiệp Việt Nam hầu như vẫn đứng ngoài cuộc. Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam thoát thai từ các doanh nghiệp gia đình, quy mô nhỏ và vừa, nên chậm đổi mới, ít chịu đổi mới công nghệ hay áp dụng các chương trình quản lý. Nếu có áp dụng thì người lao động và lãnh đạo doanh nghiệp lại chưa quen, nên ý thức thực hiện chưa cao, hoặc chưa chịu đầu tư đúng mức, chưa có sự cam kết đồng lòng thực hiện từ cấp lãnh đạo đến nhân viên, nên không hiệu quả.
Các chuyên gia cũng cho rằng một khi tài nguyên và nguồn lao động rẻ đang cạn kiệt thì lợi thế thương mại cần được khai thác, đó là tri thức của mỗi người trong tổ chức, và phải sắp xếp lại hệ thống quản lý và sản xuất. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn ngại, thay vì cải tiến, khắc phục lại tìm cách che giấu các khiếm khuyết.
Tăng năng suất bằng các công cụ quản lý
Phi Tuấn
Thứ Tư, 10/3/2010, 11:39 (GMT+7)
Công nhân Công ty May Đại Việt tại nhà máy ở quận Tân Phú, TPHCM. Sau khi áp dụng phương pháp quản lý sản xuất tinh gọn - LEAN, công ty đã giảm được 61% khối lượng hàng tồn trên chuyền may. Ảnh: Lê Toàn.
(TBKTSG) - Đầu tư đổi mới công nghệ là một trong những giải pháp để tăng năng suất, chất lượng, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện thực hiện. Tuy nhiên, việc đầu tư ứng dụng các phương pháp quản lý như LEAN, 6-Sigma, 5S… để tăng năng suất, chất lượng lại nằm trong tầm tay doanh nghiệp.
Kinh nghiệm để thành công
Trở về từ chuyến đi nhận Giải chất lượng châu Á-Thái Bình Dương năm 2009 của Tổ chức Chất lượng châu Á-Thái Bình Dương (APQO), ông Nguyễn Lộc, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Dây cáp điện Việt Nam (CADIVI), cho biết bên cạnh đầu tư đổi mới công nghệ, thì việc sử dụng các công cụ quản lý như ISO, 5S (sàng lọc, sắp xếp, sạch sẽ, săn sóc, sẵn sàng), TQM (quản lý chất lượng đồng bộ) giúp giá trị sản xuất và doanh thu của công ty từ năm 2005 đến nay tăng trưởng gấp đôi, bình quân đạt trên 20%/năm. Lợi nhuận của công ty từ 8,6 tỉ đồng năm 2005 đã tăng lên 60 tỉ đồng năm 2009, doanh thu đạt 1.700 tỉ đồng, trong đó doanh thu từ xuất khẩu đạt hơn 7 triệu đô la Mỹ.
Điều khác biệt khi áp dụng các công cụ quản lý, theo ông Lộc, là hiệu quả kinh tế được đo lường và đánh giá một cách cụ thể, giảm thiểu các chi phí thừa, nhầm lẫn. Chính vì thế chỉ riêng trong sản xuất hàng năm giảm được 15-20% các chi phí ẩn, và trung bình, các công cụ kết hợp lại, giảm được khoảng 25% chi phí ẩn.
LEAN - sản xuất tinh gọn - cũng được các công ty áp dụng thành công. Bà Diệp Thị Hằng Nga, Phó giám đốc Công ty May Đại Việt, cho biết khi áp dụng LEAN, các công đoạn được phân công đâu vào đấy, ngăn nắp, sạch sẽ, khoa học, cộng thêm những sáng tạo từ chính công nhân đã đưa năng suất đối với sản phẩm may mặc của công ty tăng 8%, giảm bớt 61% khối lượng hàng tồn trên chuyền may.
Áp dụng các công cụ quản lý là một trong những cách tăng năng suất lao động, tiết giảm chi phí, thế nhưng điểm chung của doanh nghiệp khi áp dụng những công cụ này là gặp rất nhiều trở ngại từ phía nhân viên lẫn một sự cam kết thực hiện từ lãnh đạo doanh nghiệp. Nhiều khi những trở ngại này khiến không ít doanh nghiệp phải bỏ cuộc giữa chừng. Qua trao đổi, một số lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng điểm mấu chốt là phải có sự cam kết đồng lòng từ lãnh đạo đến nhân viên, phải kiên trì thực hiện, định kỳ đánh giá việc thực hiện để giải quyết những vướng mắc, phát huy tính sáng tạo của nhân viên.
Kinh nghiệm ở Công ty May Đại Việt khi áp dụng LEAN, là không cho công nhân biết LEAN là gì, mà từng bước triển khai và giải thích cho công nhân hiểu lợi ích tiết kiệm, tinh giản hoạt động… của công cụ này, từng bước thuyết phục công nhân bằng những thay đổi. Có lúc ban giám đốc cũng thấy nản, nhưng cuối cùng thì kết quả được đo bằng những lợi ích thiết thực.
“Ban đầu công nhân phản ứng dữ lắm. Trước đây họ được giao một bó nguyên liệu 60 ki lô gam, nay chúng tôi chia làm ba lần, mỗi lần 20 ki lô gam. Công nhân cho rằng ba lần hay một lần cũng thế. Nhưng trong thực tế có người may nhanh, có người may chậm, vì vậy việc sắp xếp lại sẽ tránh được tình trạng có người ôm hàng quá lâu trong khi một số khác không có hàng để làm. Sau một thời gian thấy hàng tồn trên chuyền may giảm rõ rệt, công nhân rất hưởng ứng”, bà Nga kể.
Còn ông Âu Hoàng Hà, Trưởng ban Chỉ đạo chương trình 5S của Công ty cổ phần In 7, cho rằng ý thức của mỗi người quyết định thành công của chương trình áp dụng những công cụ quản lý. Sau một thời gian, khi thấy rõ hiệu quả công việc, nhà xưởng sạch sẽ, mọi thứ được sắp xếp, sàng lọc, thì công nhân mới hiểu được ý nghĩa của việc mình làm.
Theo ông Lộc, khó khăn lớn nhất là ban lãnh đạo và nhân viên phải thông hiểu các mục tiêu và tầm nhìn của công ty, và phải đồng lòng quyết tâm thực hiện. Nhân viên thường cho rằng việc lãnh đạo công ty là của ban giám đốc, còn mình chỉ biết sản xuất, vì thế nếu không có một sự gắn bó, thông hiểu nhau, không có sự chia sẻ và đồng lòng về mục tiêu, thì sẽ không đạt được mục đích.
Ông Lộc kể: năm 1997, lần đầu tiên CADIVI áp dụng hệ thống ISO 9002. Ban giám đốc đã phổ biến và đi kiểm tra trực tiếp từng công nhân, đưa ra quy định nếu ai trải qua ba lần kiểm tra mà không thuộc, không nắm bắt được chính sách chất lượng và mục tiêu của công ty thì sẽ bị chuyển sang diện chờ việc. Chính vì thế tất cả nhân viên đều cố gắng, cùng đồng lòng thực hiện các quy trình và chỉ mất sáu tháng công ty đã đạt được chứng nhận ISO 9002. Từ đó công ty đã từng bước mở rộng áp dụng thêm các công cụ, tiêu chuẩn khác.
Vai trò của các chuyên gia tư vấn trong việc áp dụng các công cụ quản lý được doanh nghiệp đánh giá cao, nói như giám đốc một doanh nghiệp, họ chính là những người vạch lá tìm sâu, giúp chỉ ra những khiếm khuyết doanh nghiệp thường mắc phải, đưa ra những giải pháp khắc phục hay cải tiến để tăng năng suất, chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh, tiết giảm chi phí.
Ông Nguyễn Lộc cho biết để đáp ứng yêu cầu của đối tác, năm 2008 CADIVI đã đầu tư một hệ thống thiết bị kiểm tra sản phẩm trị giá khoảng 500.000 đô la Mỹ, và bỏ ra 20.000 đô la mời một cơ quan kiểm định của Mỹ sang đánh giá, cộng thêm chi phí mỗi mẫu kiểm tra là 5.000 đô la để các chuyên gia Mỹ tìm xem đâu là điểm yếu của công ty nhằm khắc phục và cải tiến.
Một trong những vấn đề lớn mà giới chuyên gia Mỹ tìm ra thời điểm đó là nếu lấy tổng giám đốc làm mục tiêu, thì những nhân viên càng ở xa càng trở nên thiếu hiểu biết về mục tiêu, tầm nhìn của công ty. CADIVI đã khắc phục bằng cách áp dụng phương cách quản lý theo quy trình, tức là người nào gần khách hàng hơn thì người đó có quyền quyết định.
Rào cản phải vượt qua
Các chuyên gia tư vấn đã chỉ ra rằng chi phí ẩn trong sản xuất kinh doanh là một con số khổng lồ, lên tới 20-25% ở các doanh nghiệp EU, 25-30% ở Mỹ.
GS.TS.Nguyễn Quang Toản, Chủ tịch Hội Chất lượng TPHCM, cho rằng chi phí ẩn ở doanh nghiệp Việt Nam là không dưới 40% doanh số, và đây chính là “tấm bia lớn” để các doanh nghiệp tấn công vào nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Việc chuyển dịch cơ cấu tài sản của doanh nghiệp hiện đang thay đổi, từ cơ cấu tài sản hữu hình chiếm 75% và tài sản vô hình là 25% trong thời đại công nghiệp sang cơ cấu 75% là tài sản vô hình và 25% là tài sản hữu hình trong thời đại tri thức, trong đó việc sử dụng các công cụ quản lý và các phương pháp sáng tạo đang là xu thế của thế giới.
Theo các chuyên gia tư vấn, dù các công cụ này đã được doanh nghiệp nước ngoài áp dụng từ lâu, thế nhưng các doanh nghiệp Việt Nam hầu như vẫn đứng ngoài cuộc. Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam thoát thai từ các doanh nghiệp gia đình, quy mô nhỏ và vừa, nên chậm đổi mới, ít chịu đổi mới công nghệ hay áp dụng các chương trình quản lý. Nếu có áp dụng thì người lao động và lãnh đạo doanh nghiệp lại chưa quen, nên ý thức thực hiện chưa cao, hoặc chưa chịu đầu tư đúng mức, chưa có sự cam kết đồng lòng thực hiện từ cấp lãnh đạo đến nhân viên, nên không hiệu quả.
Các chuyên gia cũng cho rằng một khi tài nguyên và nguồn lao động rẻ đang cạn kiệt thì lợi thế thương mại cần được khai thác, đó là tri thức của mỗi người trong tổ chức, và phải sắp xếp lại hệ thống quản lý và sản xuất. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn ngại, thay vì cải tiến, khắc phục lại tìm cách che giấu các khiếm khuyết.
Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010
Thực chất GDP là gì?
http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=5402502340189983068
Thực chất GDP là gì?
Hàn Trầm Tưởng
Thứ Sáu, 5/3/2010, 16:05 (GMT+7)
(TBKTSG) - Chỉ tiêu GDP ngày nay được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các báo cáo thành tích cuối năm ở các địa phương. GDP tăng trưởng cao thường gắn liền với sự hãnh diện, GDP tăng trưởng thấp là một sự lo âu. Nhiều nhà kinh tế “vung tay múa chân” khi bàn về con số tăng trưởng GDP, rồi hiến kế này kế nọ. Vậy thực chất GDP ở Việt Nam được tính toán thế nào?
Lịch sử ra đời của GDP
Thực ra, GDP là một chỉ tiêu trong hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts - SNA). SNA của Liên hiệp quốc được các nhà kinh tế hàng đầu thế giới, đứng đầu là Richard Stone (đoạt giải Nobel 1984) đưa ra. SNA đã tập hợp một cách hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng nhằm mô tả, phân tích các hiện tượng kinh tế cơ bản. Hệ thống SNA mô tả quá trình chu chuyển sản phẩm và tiền tệ trong một quốc gia, nó là một tập hợp đầy đủ, phù hợp và linh hoạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Những chỉ tiêu này được xây dựng dựa trên các khái niệm, định nghĩa và quy tắc chuẩn mực được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới.
Vị trí đặt quảng cáo
Hệ thống SNA phục vụ nhiều mục đích khác nhau, trong đó mục đích cơ bản là cung cấp thông tin để phân tích và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô làm cơ sở cho các nhà quản lý và lãnh đạo các cấp giám sát, nghiên cứu, điều hành và ứng xử với nền kinh tế.
Có thể coi việc tập hợp các chỉ tiêu kinh tế đã hình thành từ thế kỷ 17. Năm 1665, Wiliam Petty và Gregory King (1688) đã đưa ra các chỉ tiêu nhằm đánh giá thu nhập quốc gia và chi tiêu dùng cuối cùng.
Vào thế kỷ 18, các nhà kinh tế Pháp theo trường phái trọng nông làm giảm khái niệm về thu nhập quốc gia do họ quan niệm chỉ có ngành nông nghiệp và khai thác trực tiếp từ thiên nhiên mới thuộc phạm trù sản xuất, tuy nhiên đóng góp của trường phái này về mặt học thuật là rất quan trọng.
Năm 1758, Francois Quesnay một thành viên của phái trọng nông đã xây dựng “Lược đồ kinh tế” (tableou economique) mô tả mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, và mô hình này được xem như tiền đề của bảng I/O (input-output table) của Leontief sau này.
Adam Smith đã phê phán tư tưởng của trường phái trọng nông và đề cao vai trò của công nghiệp chế biến trong nền kinh tế. Tuy vậy, Adam Smith cũng như Karl Marx, không thừa nhận vai trò của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế. Quan điểm này được thể hiện trong “Hệ thống các bảng kinh tế quốc dân - MPS” được áp dụng đối với các nước xã hội chủ nghĩa cho tới những năm 90 của thế kỷ 20.
Vào những thập niên 30 của thế kỷ trước, lý thuyết tổng quát của J.M.Keynes được đưa ra nhằm giải thích hiện tượng khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi quan niệm của các nhà kinh tế thời kỳ đó khi họ chỉ sử dụng ý niệm thu nhập quốc gia như là cách đánh giá duy nhất của một quốc gia (vấn đề này giống hệt Việt Nam hiện nay khi coi GDP như chỉ tiêu duy nhất đánh giá tình hình kinh tế của đất nước).
Dựa trên lý thuyết tổng quát của Keynes và lược đồ kinh tế của Francois Quensnay, năm 1941 Wassily Leontief đưa ra mô hình cân đối liên ngành (còn gọi là bảng I/O - được công bố trong công trình nghiên cứu “Cấu trúc của nền kinh tế Hoa Kỳ”).
Đầu những năm 1950, nhu cầu so sánh quốc tế đã thúc đẩy việc xây dựng hệ thống hạch toán quốc gia theo chuẩn mực quốc tế. Năm 1953, Hội Quốc Liên (tiền thân của tổ chức Liên hiệp quốc) xây dựng hệ thống tài khoản quốc gia đầu tiên dựa trên báo cáo của nhóm nghiên cứu trường Đại học Cambridge do Richard Stone đứng đầu. Đây cũng là phiên bản đầu tiên của Hệ thống tài khoản quốc gia, còn gọi SNA, 1953.
Sau một thời gian áp dụng, cơ quan thống kê Liên hiệp quốc đã sửa đổi và kết hợp toàn diện các lý thuyết kinh tế và công bố SNA, 1968. Phiên bản này cũng do chính Richard Stone đứng đầu nhóm sửa đổi (còn gọi nhóm Cambridge). Ông xây dựng hệ thống này với mô hình I/O là trung tâm về ý niệm cũng như cách hạch toán.
Sau đó, do kinh tế thế giới phát triển nhanh và tổ chức Thống kê Liên hiệp quốc cần thống nhất về ý niệm và định nghĩa với các tổ chức khác như WB, IMF, Ủy ban Thống kê châu Âu (EUROSTAT), Tổ chức Hợp tác và phát triển châu Âu (OECD), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)... những thành viên của các tổ chức này và chuyên gia kinh tế của các nước thành viên đã nhóm họp và SNA, 1993 ra đời.
Từ năm 1954-1975 đất nước Việt Nam chia làm hai miền thuộc hai chế độ chính trị khác nhau. Ở miền Bắc, ngành thống kê áp dụng phương pháp luận của “Hệ thống các bảng cân đối vật chất - MPS”. Ở miền Nam, Viện Thống kê thuộc chính quyền Sài Gòn áp dụng “Hệ thống các tài khoản quốc gia - SNA”. Thời kỳ 1976-1988 đất nước thống nhất, ngành thống kê áp dụng MPS cho phạm vi cả nước.
Từ 1989 đến nay, ngành thống kê Việt Nam áp dụng SNA trên phạm vi toàn quốc (ngày 25-12-1992, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 183/TTg về việc chính thức áp dụng hệ thống SNA trên phạm vi cả nước thay cho hệ thống MPS trước đây).
Những con số thiếu thông tin?
Hiện nay cơ quan thống kê Việt Nam tính toán GDP từ phía cung, tức là cộng tất cả giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế và thuế gián thu (trừ trợ cấp, trợ giá) và hầu hết các nhà thống kê cho rằng đó cũng là ý nghĩa của GDP.
GDP theo tổng cầu cuối cùng chỉ được sử dụng như một sự đối chiếu với phía cung. Cách suy nghĩ này vẫn mang nặng ảnh hưởng về chỉ tiêu “thu nhập quốc dân” trong Hệ thống cân đối vật chất - MPS trước đây.
Từ cách tư duy này dẫn đến những phương pháp và khái niệm không đồng bộ trong các bộ phận chuyên ngành của cơ quan thống kê.
Ví dụ: giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp làm gia công như dệt may, giày da chỉ tính phần gia công, trong khi xuất khẩu lại tính cả giá trị sản phẩm. Như vậy về mặt kỹ thuật không thể cân đối vĩ mô nền kinh tế và thành tích xuất khẩu cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Hơn nữa, khi cân đối nguồn và sử dụng GDP, phía sử dụng (demand size) bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, trong đó có cả chi tiêu từ nguồn chính thức và từ nguồn thu không chính thức của người dân, nhưng từ phía cung, nguồn thu không chính thức không được tính vào tổng giá trị tăng thêm.
Như vậy, sự sai số giữa nguồn và sử dụng sẽ bị dồn vào tích lũy, nhưng càng ngày tỷ lệ tích lũy tài sản/ vốn đầu tư ngày càng thấp đi. Hiện tượng này rất khó lý giải về độ chính xác của số liệu (xem bảng 1).
Ngay như về phía cung bao gồm các yếu tố rất cơ bản của nền kinh tế như lao động (L) và vốn (tư bản - capital stock), đặc biệt là chỉ tiêu vốn, cũng không được cơ quan thống kê tính đến.
Định nghĩa tổng quát nhất về đầu tư: “Đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm tăng năng lực sản xuất tương lai của nền kinh tế” (xem Sachs-Larrain, 1993). Còn vốn tại một thời điểm nào đó được định nghĩa bằng giá trị tổng các đầu tư qua các năm tính đến thời điểm đó trừ đi phần hao mòn tài sản cố định lũy kế. Theo quốc tế, để tính toán giá trị vốn tại thời điểm nào đó người ta cộng tất cả các đầu tư trước đó, rồi trừ đi khấu hao tài sản cố định hàng năm.
Một phương pháp khác để xác định giá trị của vốn tại một thời điểm nào đó người ta căn cứ vào giá thị trường hiện tại của khối lượng vốn này. Phương pháp này rất khó thực hiện bởi muốn xác định cần phải có tổng điều tra (kiểm kê) tài sản trên phạm vi toàn quốc.
Hai ý niệm cơ bản trên hoàn toàn xa lạ với cơ quan thống kê và nhiều nhà kinh tế Việt Nam. Hiện nay, cơ quan thống kê Việt Nam có chỉ tiêu “vốn đầu tư...”, nhưng thực chất chỉ tiêu này không phải vốn cũng không hoàn toàn là đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tài sản trên “vốn đầu tư” được thể hiện trong bảng 2.
Tốc độ tăng trưởng GDP thường được tính từ GDP theo giá so sánh. Vấn đề chuyển GDP từ giá thực tế về giá so sánh là một vấn đề không đơn giản, khi Việt Nam tính GDP từ phương pháp sản xuất (là cơ bản) việc tính chuyển GDP về giá so sánh theo quốc tế cần lấy trọng số (quyền số) từ bảng I-O, nhưng một điều kỳ lạ là năm gốc mà Tổng cục Thống kê chọn lại là những năm không có bảng I-O (giá 1994).
Vậy GDP theo giá so sánh (mà từ đó tính ra tốc độ tăng trưởng) được tính toán thế nào vẫn là một câu hỏi lớn. Điều này là một khó khăn lớn cho những người sử dụng số liệu thống kê cũng như các nhà hoạch định chính sách vĩ mô.
Các chỉ tiêu cân đối trong SNA gồm tổng sản phẩm trong nước (GDP), thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia khả dụng (NDI) và để dành (savings) của các khu vực thể chế.
• GDP = tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình + tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước + tích lũy tài sản + xuất khẩu - nhập khẩu (phương pháp sử dụng cuối cùng); hoặc = tổng thu nhập của người lao động từ sản xuất + tổng thặng dư sản xuất + tổng khấu hao tài sản cố định + tổng thuế gián thu và thuế sản xuất khác + thuế nhập khẩu - trợ cấp cho sản xuất (phương pháp phân phối); hoặc = tổng giá trị sản xuất - tổng chi phí trung gian + thuế nhập khẩu (phương pháp sản xuất)
• GNI = GDP + thu nhập từ sở hữu thuần
• NDI = GNI + thu nhập từ chuyển nhượng hiện hành thuần
• Để dành = NDI - tiêu dùng cuối cùng
Thực chất GDP là gì?
Hàn Trầm Tưởng
Thứ Sáu, 5/3/2010, 16:05 (GMT+7)
(TBKTSG) - Chỉ tiêu GDP ngày nay được nhắc đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các báo cáo thành tích cuối năm ở các địa phương. GDP tăng trưởng cao thường gắn liền với sự hãnh diện, GDP tăng trưởng thấp là một sự lo âu. Nhiều nhà kinh tế “vung tay múa chân” khi bàn về con số tăng trưởng GDP, rồi hiến kế này kế nọ. Vậy thực chất GDP ở Việt Nam được tính toán thế nào?
Lịch sử ra đời của GDP
Thực ra, GDP là một chỉ tiêu trong hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts - SNA). SNA của Liên hiệp quốc được các nhà kinh tế hàng đầu thế giới, đứng đầu là Richard Stone (đoạt giải Nobel 1984) đưa ra. SNA đã tập hợp một cách hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng nhằm mô tả, phân tích các hiện tượng kinh tế cơ bản. Hệ thống SNA mô tả quá trình chu chuyển sản phẩm và tiền tệ trong một quốc gia, nó là một tập hợp đầy đủ, phù hợp và linh hoạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Những chỉ tiêu này được xây dựng dựa trên các khái niệm, định nghĩa và quy tắc chuẩn mực được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới.
Vị trí đặt quảng cáo
Hệ thống SNA phục vụ nhiều mục đích khác nhau, trong đó mục đích cơ bản là cung cấp thông tin để phân tích và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô làm cơ sở cho các nhà quản lý và lãnh đạo các cấp giám sát, nghiên cứu, điều hành và ứng xử với nền kinh tế.
Có thể coi việc tập hợp các chỉ tiêu kinh tế đã hình thành từ thế kỷ 17. Năm 1665, Wiliam Petty và Gregory King (1688) đã đưa ra các chỉ tiêu nhằm đánh giá thu nhập quốc gia và chi tiêu dùng cuối cùng.
Vào thế kỷ 18, các nhà kinh tế Pháp theo trường phái trọng nông làm giảm khái niệm về thu nhập quốc gia do họ quan niệm chỉ có ngành nông nghiệp và khai thác trực tiếp từ thiên nhiên mới thuộc phạm trù sản xuất, tuy nhiên đóng góp của trường phái này về mặt học thuật là rất quan trọng.
Năm 1758, Francois Quesnay một thành viên của phái trọng nông đã xây dựng “Lược đồ kinh tế” (tableou economique) mô tả mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, và mô hình này được xem như tiền đề của bảng I/O (input-output table) của Leontief sau này.
Adam Smith đã phê phán tư tưởng của trường phái trọng nông và đề cao vai trò của công nghiệp chế biến trong nền kinh tế. Tuy vậy, Adam Smith cũng như Karl Marx, không thừa nhận vai trò của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế. Quan điểm này được thể hiện trong “Hệ thống các bảng kinh tế quốc dân - MPS” được áp dụng đối với các nước xã hội chủ nghĩa cho tới những năm 90 của thế kỷ 20.
Vào những thập niên 30 của thế kỷ trước, lý thuyết tổng quát của J.M.Keynes được đưa ra nhằm giải thích hiện tượng khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi quan niệm của các nhà kinh tế thời kỳ đó khi họ chỉ sử dụng ý niệm thu nhập quốc gia như là cách đánh giá duy nhất của một quốc gia (vấn đề này giống hệt Việt Nam hiện nay khi coi GDP như chỉ tiêu duy nhất đánh giá tình hình kinh tế của đất nước).
Dựa trên lý thuyết tổng quát của Keynes và lược đồ kinh tế của Francois Quensnay, năm 1941 Wassily Leontief đưa ra mô hình cân đối liên ngành (còn gọi là bảng I/O - được công bố trong công trình nghiên cứu “Cấu trúc của nền kinh tế Hoa Kỳ”).
Đầu những năm 1950, nhu cầu so sánh quốc tế đã thúc đẩy việc xây dựng hệ thống hạch toán quốc gia theo chuẩn mực quốc tế. Năm 1953, Hội Quốc Liên (tiền thân của tổ chức Liên hiệp quốc) xây dựng hệ thống tài khoản quốc gia đầu tiên dựa trên báo cáo của nhóm nghiên cứu trường Đại học Cambridge do Richard Stone đứng đầu. Đây cũng là phiên bản đầu tiên của Hệ thống tài khoản quốc gia, còn gọi SNA, 1953.
Sau một thời gian áp dụng, cơ quan thống kê Liên hiệp quốc đã sửa đổi và kết hợp toàn diện các lý thuyết kinh tế và công bố SNA, 1968. Phiên bản này cũng do chính Richard Stone đứng đầu nhóm sửa đổi (còn gọi nhóm Cambridge). Ông xây dựng hệ thống này với mô hình I/O là trung tâm về ý niệm cũng như cách hạch toán.
Sau đó, do kinh tế thế giới phát triển nhanh và tổ chức Thống kê Liên hiệp quốc cần thống nhất về ý niệm và định nghĩa với các tổ chức khác như WB, IMF, Ủy ban Thống kê châu Âu (EUROSTAT), Tổ chức Hợp tác và phát triển châu Âu (OECD), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)... những thành viên của các tổ chức này và chuyên gia kinh tế của các nước thành viên đã nhóm họp và SNA, 1993 ra đời.
Từ năm 1954-1975 đất nước Việt Nam chia làm hai miền thuộc hai chế độ chính trị khác nhau. Ở miền Bắc, ngành thống kê áp dụng phương pháp luận của “Hệ thống các bảng cân đối vật chất - MPS”. Ở miền Nam, Viện Thống kê thuộc chính quyền Sài Gòn áp dụng “Hệ thống các tài khoản quốc gia - SNA”. Thời kỳ 1976-1988 đất nước thống nhất, ngành thống kê áp dụng MPS cho phạm vi cả nước.
Từ 1989 đến nay, ngành thống kê Việt Nam áp dụng SNA trên phạm vi toàn quốc (ngày 25-12-1992, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 183/TTg về việc chính thức áp dụng hệ thống SNA trên phạm vi cả nước thay cho hệ thống MPS trước đây).
Những con số thiếu thông tin?
Hiện nay cơ quan thống kê Việt Nam tính toán GDP từ phía cung, tức là cộng tất cả giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế và thuế gián thu (trừ trợ cấp, trợ giá) và hầu hết các nhà thống kê cho rằng đó cũng là ý nghĩa của GDP.
GDP theo tổng cầu cuối cùng chỉ được sử dụng như một sự đối chiếu với phía cung. Cách suy nghĩ này vẫn mang nặng ảnh hưởng về chỉ tiêu “thu nhập quốc dân” trong Hệ thống cân đối vật chất - MPS trước đây.
Từ cách tư duy này dẫn đến những phương pháp và khái niệm không đồng bộ trong các bộ phận chuyên ngành của cơ quan thống kê.
Ví dụ: giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp làm gia công như dệt may, giày da chỉ tính phần gia công, trong khi xuất khẩu lại tính cả giá trị sản phẩm. Như vậy về mặt kỹ thuật không thể cân đối vĩ mô nền kinh tế và thành tích xuất khẩu cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Hơn nữa, khi cân đối nguồn và sử dụng GDP, phía sử dụng (demand size) bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, trong đó có cả chi tiêu từ nguồn chính thức và từ nguồn thu không chính thức của người dân, nhưng từ phía cung, nguồn thu không chính thức không được tính vào tổng giá trị tăng thêm.
Như vậy, sự sai số giữa nguồn và sử dụng sẽ bị dồn vào tích lũy, nhưng càng ngày tỷ lệ tích lũy tài sản/ vốn đầu tư ngày càng thấp đi. Hiện tượng này rất khó lý giải về độ chính xác của số liệu (xem bảng 1).
Ngay như về phía cung bao gồm các yếu tố rất cơ bản của nền kinh tế như lao động (L) và vốn (tư bản - capital stock), đặc biệt là chỉ tiêu vốn, cũng không được cơ quan thống kê tính đến.
Định nghĩa tổng quát nhất về đầu tư: “Đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm tăng năng lực sản xuất tương lai của nền kinh tế” (xem Sachs-Larrain, 1993). Còn vốn tại một thời điểm nào đó được định nghĩa bằng giá trị tổng các đầu tư qua các năm tính đến thời điểm đó trừ đi phần hao mòn tài sản cố định lũy kế. Theo quốc tế, để tính toán giá trị vốn tại thời điểm nào đó người ta cộng tất cả các đầu tư trước đó, rồi trừ đi khấu hao tài sản cố định hàng năm.
Một phương pháp khác để xác định giá trị của vốn tại một thời điểm nào đó người ta căn cứ vào giá thị trường hiện tại của khối lượng vốn này. Phương pháp này rất khó thực hiện bởi muốn xác định cần phải có tổng điều tra (kiểm kê) tài sản trên phạm vi toàn quốc.
Hai ý niệm cơ bản trên hoàn toàn xa lạ với cơ quan thống kê và nhiều nhà kinh tế Việt Nam. Hiện nay, cơ quan thống kê Việt Nam có chỉ tiêu “vốn đầu tư...”, nhưng thực chất chỉ tiêu này không phải vốn cũng không hoàn toàn là đầu tư. Tỷ lệ tích lũy tài sản trên “vốn đầu tư” được thể hiện trong bảng 2.
Tốc độ tăng trưởng GDP thường được tính từ GDP theo giá so sánh. Vấn đề chuyển GDP từ giá thực tế về giá so sánh là một vấn đề không đơn giản, khi Việt Nam tính GDP từ phương pháp sản xuất (là cơ bản) việc tính chuyển GDP về giá so sánh theo quốc tế cần lấy trọng số (quyền số) từ bảng I-O, nhưng một điều kỳ lạ là năm gốc mà Tổng cục Thống kê chọn lại là những năm không có bảng I-O (giá 1994).
Vậy GDP theo giá so sánh (mà từ đó tính ra tốc độ tăng trưởng) được tính toán thế nào vẫn là một câu hỏi lớn. Điều này là một khó khăn lớn cho những người sử dụng số liệu thống kê cũng như các nhà hoạch định chính sách vĩ mô.
Các chỉ tiêu cân đối trong SNA gồm tổng sản phẩm trong nước (GDP), thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia khả dụng (NDI) và để dành (savings) của các khu vực thể chế.
• GDP = tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình + tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước + tích lũy tài sản + xuất khẩu - nhập khẩu (phương pháp sử dụng cuối cùng); hoặc = tổng thu nhập của người lao động từ sản xuất + tổng thặng dư sản xuất + tổng khấu hao tài sản cố định + tổng thuế gián thu và thuế sản xuất khác + thuế nhập khẩu - trợ cấp cho sản xuất (phương pháp phân phối); hoặc = tổng giá trị sản xuất - tổng chi phí trung gian + thuế nhập khẩu (phương pháp sản xuất)
• GNI = GDP + thu nhập từ sở hữu thuần
• NDI = GNI + thu nhập từ chuyển nhượng hiện hành thuần
• Để dành = NDI - tiêu dùng cuối cùng
Thứ Hai, 8 tháng 3, 2010
Parkinson's Law
Parkinson's Law
The report of the Royal Commission on the Civil Service was published on Thursday afternoon. Time has not permitted any comment in this week's issue of The Economist on the contents of the Report. But the startling discovery enunciated by a correspondent in the following article is certainly relevant to what should have been in it.
Nov 19th 1955 | From The Economist print edition
IT is a commonplace observation that work expands so as to fill the time available for its completion. Thus, an elderly lady of leisure can spend the entire day in writing and despatching a postcard to her niece at Bognor Regis. An hour will be spent in finding the postcard, another in hunting for spectacles, half-an-hour in a search for the address, an hour and a quarter in composition, and twenty minutes in deciding whether or not to take an umbrella when going to the pillar-box in the next street. The total effort which would occupy a busy man for three minutes all told may in this fashion leave another person prostrate after a day of doubt, anxiety and toil.
Granted that work (and especially paper work) is thus elastic in its demands on time, it is manifest that there need be little or no relationship between the work to be done and the size of the staff to which it may be assigned. Before the discovery of a new scientific law—herewith presented to the public for the first time, and to be called Parkinson's Law*—there has, however, been insufficient recognition of the implications of this fact in the field of public administration. Politicians and taxpayers have assumed (with occasional phases of doubt) that a rising total in the number of civil servants must reflect a growing volume of work to be done. Cynics, in questioning this belief, have imagined that the multiplication of officials must have left some of them idle or all of them able to work for shorter hours. But this is a matter in which faith and doubt seem equally misplaced. The fact is that the number of the officials and the quantity of the work to be done are not related to each other at all. The rise in the total of those employed is governed by Parkinson's Law, and would be much the same whether the volume of the work were to increase, diminish or even disappear. The importance of Parkinson's Law lies in the fact that it is a law of growth based upon an analysis of the factors by which that growth is controlled.
The validity of this recently discovered law must rest mainly on statistical proofs, which will follow. Of more interest to the general reader is the explanation of the factors that underlie the general tendency to which this law gives definition. Omitting technicalities (which are numerous) we may distinguish, at the outset, two motive forces. They can be represented for the present purpose by two almost axiomatic statements, thus:
Factor I.—An official wants to multiply subordinates, not rivals; and
Factor II.—Officials make work for each other.
We must now examine these motive forces in turn.
The Law of Multiplication of Subordinates
To comprehend Factor I, we must picture a civil servant called A who finds himself overworked. Whether this overwork is real or imaginary is immaterial; but we should observe, in passing, that A's sensation (or illusion) might easily result from his own decreasing energy—a normal symptom of middle-age. For this real or imagined overwork there are, broadly speaking, three possible remedies
(1) He may resign.
(2) He may ask to halve the work with a colleague called B.
(3) He may demand the assistance of two subordinates, to be called C and D.
There is probably no instance in civil service history of A choosing any but the third alternative. By resignation he would lose his pension rights. By having B appointed, on his own level in the hierarchy, he would merely bring in a rival for promotion to W's vacancy when W (at long last) retires. So A would rather have C and D, junior men, below him. They will add to his consequence; and, by dividing the work into two categories, as between C and D, he will have the merit of being the only man who comprehends them both.
It is essential to realise, at this point, that C and D are, as it were, inseparable. To appoint C alone would have been impossible. Why? Because C, if by himself, would divide the work with A and so assume almost the equal status which has been refused in the first instance to B; a status the more emphasised if C is A's only possible successor. Subordinates must thus number two or more, each being kept in order by fear of the other's promotion. When C complains in turn of being overworked (as he certainly will) A will, with the concurrence of C, advise the appointment of two assistants to help C. But he can then avert internal friction only by advising the appointment of two more assistants to help D, whose position is much the same. With this recruitment of E, F, G and H, the promotion of A is now practically certain.
The Law of Multiplication of Work
Seven officials are now doing what one did before. This is where Factor II comes into operation. For these seven make so much work for each other that all are fully occupied and A is actually working harder than ever. An incoming document may well come before each of them in turn. Official E decides that it falls within the province of F, who places a draft reply before C, who amends it drastically before consulting D, who asks G to deal with it. But G goes on leave at this point, handing the file over to H, who drafts a minute, which is signed by D and returned to C, who revises his draft accordingly and lays the new version before A.
What does A do? He would have every excuse for signing the thing unread, for he has many other matters on his mind. Knowing now that he is to succeed W next year, he has to decide whether C or D should succeed to his own office. He had to agree to G going on leave, although not yet strictly entitled to it. He is worried whether H should not have gone instead, for reasons of health. He has looked pale recently—partly but not solely because of his domestic troubles. Then there is the business of F's special increment of salary for the period of the conference, and E's application for transfer to the Ministry of Pensions. A has heard that D is in love with a married typist and that G and F are no longer on speaking terms—no one seems to know why. So A might be tempted to sign C's draft and have done with it.
But A is a conscientious man. Beset as he is with problems created by his colleagues for themselves and for him—created by the mere fact of these officials' existence—he is not the man to shirk his duty. He reads through the draft with care, deletes the fussy paragraphs added by C and H and restores the thing back to the form preferred in the first instance by the able (if quarrelsome) F. He corrects the English—none of these young men can write grammatically—and finally produces the same reply he would have written if officials C to H had never been born. Far more people have taken far longer to produce the same result. No one has been idle. All have done their best. And it is late in the evening before A finally quits his office and begins the return journey to Ealing. The last of the office lights are being turned off in the gathering dusk which marks the end of another day's administrative toil. Among the last to leave, A reflects, with bowed shoulders and a wry smile, that late hours, like grey hairs, are among the penalties of success.
The Scientific Proofs
From this description of the factors at work the student of political science will recognise that administrators are more or less bound to multiply. Nothing has yet been said, however, about the period of time likely to elapse between the date of A's appointment and the date from which we can calculate the pensionable service of H. Vast masses of statistical evidence have been collected and it is from a study of this data that Parkinson's Law has been deduced. Space will not allow of detailed analysis, but research began in the British Navy Estimates. These were chosen because the Admiralty's responsibilities are more easily measurable than those of (say) the Board of Trade.
The accompanying table is derived from Admiralty statistics for 1914 and 1928. The criticism voiced at the time centred on the comparison between the sharp fall in numbers of those available for fighting and the sharp rise in those available only for administration, the creation, it was said, of “a magnificent Navy on land.” But that comparison is not to the present purpose. What we have to note is that the 2,000 Admiralty officials of 1914 had become the 3,569 of 1928; and that this growth was unrelated to any possible increase in their work. The Navy during that period had diminished, in point of fact, by a third in men and two-thirds in ships. Nor, from 1922 onwards, was its strength even expected to increase, for its total of ships (unlike its total of officials) was limited by the Washington Naval Agreement of that year. Yet in these circumstances we had a 78.45 per cent increase in Admiralty officials over a period of fourteen years; an average increase of 5.6 per cent a year on the earlier total. In fact, as we shall see, the rate of increase was not as regular as that. All we have to consider, at this stage, is the percentage rise over a given period.

Can this rise in the total number of civil servants be accounted for except on the assumption that such a total must always rise by a law governing its growth? It might be urged, at this point, that the period under discussion was one of rapid development in naval technique. The use of the flying machine was no longer confined to the eccentric. Submarines were tolerated if not approved. Engineer officers were beginning to be regarded as almost human. In so revolutionary an age we might expect that storekeepers would have more elaborate inventories to compile. We might not wonder to see more draughtsmen on the pay-roll, more designers, more technicians and scientists. But these, the dockyard officials, increased only by 40 per cent in number, while the men of Whitehall increased by nearly 80 per cent. For every new foreman or electrical engineer at Portsmouth there had to be two more clerks at Charing Cross. From this we might be tempted to conclude, provisionally, that the rate of increase in administrative staff is likely to be double that of the technical staff at a time when the actually useful strength (in this case, of seamen) is being reduced by 31.5 per cent. It has been proved, however, statistically, that this last percentage is irrelevant. The officials would have multiplied at the same rate had there been no actual seamen at all.
It would be interesting to follow the further progress by which the 8,118 Admiralty staff of 1935 came to number 33,788 by 1954. But the staff of the Colonial Office affords a better field of study during a period of Imperial decline. The relevant statistics are set down below. Before showing what the rate of increase is, we must observe that the extent of this department's responsibilities was far from constant during these twenty years. The colonial territories were not much altered in area or population between 1935 and 1939. They were considerably diminished by 1943, certain areas being in enemy hands. They were increased again in 1947, but have since then shrunk steadily from year to year as successive colonies achieve self-government.
It would be rational, prior to the discovery of Parkinson's Law, to suppose that these changes in the scope of Empire would be reflected in the size of its central administration. But a glance at the figures shows that the staff totals represent automatic stages in an inevitable increase. And this increase, while related to that observed in other departments, has nothing to do with the size—or even the existence—of the Empire. What are the percentages of increase? We must ignore, for this purpose, the rapid increase in staff which accompanied the diminution of responsibility during World War II. We should note rather the peacetime rates of increase; over 5.24 per cent between 1935 and 1939, and 6.55 per cent between 1947 and 1954. This gives an average increase of 5.89 per cent each year, a percentage markedly similar to that already found in the Admiralty staff increase between 1914 and 1928.

Further and detailed statistical analysis of departmental staffs would be inappropriate in such an article as this. It is hoped, however, to reach a tentative conclusion regarding the time likely to elapse between a given official's first appointment and the later appointment of his two or more assistants. Dealing with the problem of pure staff accumulation, all the researches so far completed point to an average increase of about 5¾ per cent per year. This fact established, it now becomes possible to state Parkinson's Law in mathematical form, thus:
In any public administrative department not actually at war the staff increase may be expected to follow this formula:
Where k is the number of staff seeking promotion through the appointment of subordinates; p represents the difference between the ages of appointment and retirement; m is the number of man-hours devoted to answering minutes within the department; and n is the number of effective units being administered. Then x will be the number of new staff required each year.
Mathematicians will, of course, realise that to find the percentage increase they must multiply x by 100 and divide by the total of the previous year, thus:

where y represents the total original staff. And this figure will invariably prove to be between 5.17 per cent and 6.56 per cent, irrespective of any variation in the amount of work (if any) to be done.

The discovery of this formula and of the general principles upon which it is based has, of course, no emotive value. No attempt has been made to inquire whether departments ought to grow in size. Those who hold that this growth is essential to gain full employment are fully entitled to their opinion. Those who doubt the stability of an economy based upon reading each other's minutes are equally entitled to theirs. Parkinson's Law is a purely scientific discovery, inapplicable except in theory to the politics of the day. It is not the business of the botanist to eradicate the weeds. Enough for him if he can tell us just how fast they grow.
The report of the Royal Commission on the Civil Service was published on Thursday afternoon. Time has not permitted any comment in this week's issue of The Economist on the contents of the Report. But the startling discovery enunciated by a correspondent in the following article is certainly relevant to what should have been in it.
Nov 19th 1955 | From The Economist print edition
IT is a commonplace observation that work expands so as to fill the time available for its completion. Thus, an elderly lady of leisure can spend the entire day in writing and despatching a postcard to her niece at Bognor Regis. An hour will be spent in finding the postcard, another in hunting for spectacles, half-an-hour in a search for the address, an hour and a quarter in composition, and twenty minutes in deciding whether or not to take an umbrella when going to the pillar-box in the next street. The total effort which would occupy a busy man for three minutes all told may in this fashion leave another person prostrate after a day of doubt, anxiety and toil.
Granted that work (and especially paper work) is thus elastic in its demands on time, it is manifest that there need be little or no relationship between the work to be done and the size of the staff to which it may be assigned. Before the discovery of a new scientific law—herewith presented to the public for the first time, and to be called Parkinson's Law*—there has, however, been insufficient recognition of the implications of this fact in the field of public administration. Politicians and taxpayers have assumed (with occasional phases of doubt) that a rising total in the number of civil servants must reflect a growing volume of work to be done. Cynics, in questioning this belief, have imagined that the multiplication of officials must have left some of them idle or all of them able to work for shorter hours. But this is a matter in which faith and doubt seem equally misplaced. The fact is that the number of the officials and the quantity of the work to be done are not related to each other at all. The rise in the total of those employed is governed by Parkinson's Law, and would be much the same whether the volume of the work were to increase, diminish or even disappear. The importance of Parkinson's Law lies in the fact that it is a law of growth based upon an analysis of the factors by which that growth is controlled.
The validity of this recently discovered law must rest mainly on statistical proofs, which will follow. Of more interest to the general reader is the explanation of the factors that underlie the general tendency to which this law gives definition. Omitting technicalities (which are numerous) we may distinguish, at the outset, two motive forces. They can be represented for the present purpose by two almost axiomatic statements, thus:
Factor I.—An official wants to multiply subordinates, not rivals; and
Factor II.—Officials make work for each other.
We must now examine these motive forces in turn.
The Law of Multiplication of Subordinates
To comprehend Factor I, we must picture a civil servant called A who finds himself overworked. Whether this overwork is real or imaginary is immaterial; but we should observe, in passing, that A's sensation (or illusion) might easily result from his own decreasing energy—a normal symptom of middle-age. For this real or imagined overwork there are, broadly speaking, three possible remedies
(1) He may resign.
(2) He may ask to halve the work with a colleague called B.
(3) He may demand the assistance of two subordinates, to be called C and D.
There is probably no instance in civil service history of A choosing any but the third alternative. By resignation he would lose his pension rights. By having B appointed, on his own level in the hierarchy, he would merely bring in a rival for promotion to W's vacancy when W (at long last) retires. So A would rather have C and D, junior men, below him. They will add to his consequence; and, by dividing the work into two categories, as between C and D, he will have the merit of being the only man who comprehends them both.
It is essential to realise, at this point, that C and D are, as it were, inseparable. To appoint C alone would have been impossible. Why? Because C, if by himself, would divide the work with A and so assume almost the equal status which has been refused in the first instance to B; a status the more emphasised if C is A's only possible successor. Subordinates must thus number two or more, each being kept in order by fear of the other's promotion. When C complains in turn of being overworked (as he certainly will) A will, with the concurrence of C, advise the appointment of two assistants to help C. But he can then avert internal friction only by advising the appointment of two more assistants to help D, whose position is much the same. With this recruitment of E, F, G and H, the promotion of A is now practically certain.
The Law of Multiplication of Work
Seven officials are now doing what one did before. This is where Factor II comes into operation. For these seven make so much work for each other that all are fully occupied and A is actually working harder than ever. An incoming document may well come before each of them in turn. Official E decides that it falls within the province of F, who places a draft reply before C, who amends it drastically before consulting D, who asks G to deal with it. But G goes on leave at this point, handing the file over to H, who drafts a minute, which is signed by D and returned to C, who revises his draft accordingly and lays the new version before A.
What does A do? He would have every excuse for signing the thing unread, for he has many other matters on his mind. Knowing now that he is to succeed W next year, he has to decide whether C or D should succeed to his own office. He had to agree to G going on leave, although not yet strictly entitled to it. He is worried whether H should not have gone instead, for reasons of health. He has looked pale recently—partly but not solely because of his domestic troubles. Then there is the business of F's special increment of salary for the period of the conference, and E's application for transfer to the Ministry of Pensions. A has heard that D is in love with a married typist and that G and F are no longer on speaking terms—no one seems to know why. So A might be tempted to sign C's draft and have done with it.
But A is a conscientious man. Beset as he is with problems created by his colleagues for themselves and for him—created by the mere fact of these officials' existence—he is not the man to shirk his duty. He reads through the draft with care, deletes the fussy paragraphs added by C and H and restores the thing back to the form preferred in the first instance by the able (if quarrelsome) F. He corrects the English—none of these young men can write grammatically—and finally produces the same reply he would have written if officials C to H had never been born. Far more people have taken far longer to produce the same result. No one has been idle. All have done their best. And it is late in the evening before A finally quits his office and begins the return journey to Ealing. The last of the office lights are being turned off in the gathering dusk which marks the end of another day's administrative toil. Among the last to leave, A reflects, with bowed shoulders and a wry smile, that late hours, like grey hairs, are among the penalties of success.
The Scientific Proofs
From this description of the factors at work the student of political science will recognise that administrators are more or less bound to multiply. Nothing has yet been said, however, about the period of time likely to elapse between the date of A's appointment and the date from which we can calculate the pensionable service of H. Vast masses of statistical evidence have been collected and it is from a study of this data that Parkinson's Law has been deduced. Space will not allow of detailed analysis, but research began in the British Navy Estimates. These were chosen because the Admiralty's responsibilities are more easily measurable than those of (say) the Board of Trade.
The accompanying table is derived from Admiralty statistics for 1914 and 1928. The criticism voiced at the time centred on the comparison between the sharp fall in numbers of those available for fighting and the sharp rise in those available only for administration, the creation, it was said, of “a magnificent Navy on land.” But that comparison is not to the present purpose. What we have to note is that the 2,000 Admiralty officials of 1914 had become the 3,569 of 1928; and that this growth was unrelated to any possible increase in their work. The Navy during that period had diminished, in point of fact, by a third in men and two-thirds in ships. Nor, from 1922 onwards, was its strength even expected to increase, for its total of ships (unlike its total of officials) was limited by the Washington Naval Agreement of that year. Yet in these circumstances we had a 78.45 per cent increase in Admiralty officials over a period of fourteen years; an average increase of 5.6 per cent a year on the earlier total. In fact, as we shall see, the rate of increase was not as regular as that. All we have to consider, at this stage, is the percentage rise over a given period.

Can this rise in the total number of civil servants be accounted for except on the assumption that such a total must always rise by a law governing its growth? It might be urged, at this point, that the period under discussion was one of rapid development in naval technique. The use of the flying machine was no longer confined to the eccentric. Submarines were tolerated if not approved. Engineer officers were beginning to be regarded as almost human. In so revolutionary an age we might expect that storekeepers would have more elaborate inventories to compile. We might not wonder to see more draughtsmen on the pay-roll, more designers, more technicians and scientists. But these, the dockyard officials, increased only by 40 per cent in number, while the men of Whitehall increased by nearly 80 per cent. For every new foreman or electrical engineer at Portsmouth there had to be two more clerks at Charing Cross. From this we might be tempted to conclude, provisionally, that the rate of increase in administrative staff is likely to be double that of the technical staff at a time when the actually useful strength (in this case, of seamen) is being reduced by 31.5 per cent. It has been proved, however, statistically, that this last percentage is irrelevant. The officials would have multiplied at the same rate had there been no actual seamen at all.
It would be interesting to follow the further progress by which the 8,118 Admiralty staff of 1935 came to number 33,788 by 1954. But the staff of the Colonial Office affords a better field of study during a period of Imperial decline. The relevant statistics are set down below. Before showing what the rate of increase is, we must observe that the extent of this department's responsibilities was far from constant during these twenty years. The colonial territories were not much altered in area or population between 1935 and 1939. They were considerably diminished by 1943, certain areas being in enemy hands. They were increased again in 1947, but have since then shrunk steadily from year to year as successive colonies achieve self-government.
It would be rational, prior to the discovery of Parkinson's Law, to suppose that these changes in the scope of Empire would be reflected in the size of its central administration. But a glance at the figures shows that the staff totals represent automatic stages in an inevitable increase. And this increase, while related to that observed in other departments, has nothing to do with the size—or even the existence—of the Empire. What are the percentages of increase? We must ignore, for this purpose, the rapid increase in staff which accompanied the diminution of responsibility during World War II. We should note rather the peacetime rates of increase; over 5.24 per cent between 1935 and 1939, and 6.55 per cent between 1947 and 1954. This gives an average increase of 5.89 per cent each year, a percentage markedly similar to that already found in the Admiralty staff increase between 1914 and 1928.

Further and detailed statistical analysis of departmental staffs would be inappropriate in such an article as this. It is hoped, however, to reach a tentative conclusion regarding the time likely to elapse between a given official's first appointment and the later appointment of his two or more assistants. Dealing with the problem of pure staff accumulation, all the researches so far completed point to an average increase of about 5¾ per cent per year. This fact established, it now becomes possible to state Parkinson's Law in mathematical form, thus:
In any public administrative department not actually at war the staff increase may be expected to follow this formula:
Where k is the number of staff seeking promotion through the appointment of subordinates; p represents the difference between the ages of appointment and retirement; m is the number of man-hours devoted to answering minutes within the department; and n is the number of effective units being administered. Then x will be the number of new staff required each year.
Mathematicians will, of course, realise that to find the percentage increase they must multiply x by 100 and divide by the total of the previous year, thus:

where y represents the total original staff. And this figure will invariably prove to be between 5.17 per cent and 6.56 per cent, irrespective of any variation in the amount of work (if any) to be done.

The discovery of this formula and of the general principles upon which it is based has, of course, no emotive value. No attempt has been made to inquire whether departments ought to grow in size. Those who hold that this growth is essential to gain full employment are fully entitled to their opinion. Those who doubt the stability of an economy based upon reading each other's minutes are equally entitled to theirs. Parkinson's Law is a purely scientific discovery, inapplicable except in theory to the politics of the day. It is not the business of the botanist to eradicate the weeds. Enough for him if he can tell us just how fast they grow.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)